Chương 9: Bệ đá dưới gốc sấu
– Bàn chải này ba nghìn một cái, cháu tính chú hai cái là sáu nghìn. – Thằng Cốm nói, chìa ra hai cái bàn chải cọ nhà vệ sinh, cán nhựa xanh, lông cứng như rễ tre. – Nước thì cháu không tính.
Mười giờ đêm thứ Sáu. Sân nhà B4 tối, chỉ có ánh đèn từ cái đèn pin đội đầu Khiết mượn của anh Tạo. Anh ngồi xổm trước cái bệ đá dưới gốc sấu, cạnh là một xô nước pha xà phòng và thằng Cốm, mặc áo khoác của mẹ, tay áo xắn ba vòng.
– Mẹ cháu có biết cháu xuống đây không?
– Mẹ cháu bảo cháu xuống. – Thằng Cốm nói. – Mẹ cháu bảo chú làm gì thì làm cùng chú, không lấy tiền. Nhưng bàn chải là tiền cháu mua, không phải tiền mẹ, nên cháu vẫn tính.
Khiết đưa nó sáu nghìn. Hai chú cháu bắt đầu cọ.
Rêu dày hơn anh tưởng. Lớp trên cùng mềm, xanh, bong ra thành mảng khi cọ mạnh. Lớp dưới đen, bám chặt vào đá như sơn, phải cọ đi cọ lại cả chục lần mới thấy màu xám của đá. Nước xà phòng chảy xuống, hoà vào đất dưới gốc sấu thành bùn. Thằng Cốm cọ hăng được mười phút thì mỏi tay, chuyển sang cầm đèn pin soi cho Khiết.
Nét khắc hiện ra dần dần, từng chữ một.
Đầu tiên là một ngôi sao năm cánh khắc chìm ở góc trên. Rồi một dòng chữ in hoa, thẳng tắp, đều tăm tắp: "GHI NHỚ CÁC ĐỒNG CHÍ CÔNG NHÂN". Dòng dưới, chữ nhỏ hơn: "đã hy sinh khi cứu tài sản nhà máy và đồng đội trong vụ cháy kho sợi đêm 17 tháng 11 năm 1983". Rồi một khoảng trống. Rồi bốn cái tên, mỗi cái một dòng, kèm năm sinh, năm mất.
Cái tên thứ ba nằm đúng chỗ Khiết đã cào ra cái đuôi chữ "g" hôm nọ. Đó không phải chữ "g". Đó là phần cuối của chữ "Phùng".
"Phùng Thị Vạn. 1964 – 1983."
Thằng Cốm soi đèn vào dòng chữ, đọc to từng chữ một, như đọc bài tập đọc. Rồi nó im. Nó ngồi xổm cạnh Khiết, cái đèn pin trên tay hơi run, soi đi soi lại cái tên ấy.
– Cô Vạn ở đây à chú? – Nó hỏi, rất nhỏ.
– Tên cô Vạn ở đây.
– Thế mà cháu ngồi lên đây ăn kem suốt.
Khiết không nhịn được, bật cười. Thằng Cốm nhìn anh, rồi cũng cười, rồi tự nhiên mếu, rồi lấy tay áo khoác của mẹ quệt mũi.
– Ai mang cái bia này về đây hả chú?
– Tôi với ông Lục. – Một giọng nói vang lên sau lưng hai chú cháu.
Ông Bồng đứng ở chân cầu thang, mặc áo bông, đầu đội mũ len. Ông đi tới, chậm, hai tay chắp sau lưng, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu ai đó bỏ quên dưới gốc sấu, cạnh cái bệ đá.
– Năm hai nghìn lẻ năm, nhà máy dời ra ngoại thành. – Ông nói. – Người ta phá hết, san phẳng làm văn phòng. Cái bia này dựng ở cổng xưởng nhuộm từ năm tám mươi tư. Phòng tổ chức bảo không có kinh phí chuyển, để người ta đập luôn cùng với tường. Ông Lục nghe thế, tối hôm ấy gọi tôi với bốn thằng thanh niên trong nhà, kéo cái xe cải tiến sang. Bốn trăm cân, sáu thằng đàn ông, đẩy từ cổng nhà máy về đây mất hai tiếng. Đặt xuống gốc sấu. Ông Lục bảo cứ để đây, cho nó gần phòng nó.
Ông vươn tay, sờ lên dòng chữ, chỗ cái tên thứ ba.
– Hồi đầu năm nào cũng lau. Rồi ông Lục mất. Rồi ai cũng già. Rêu nó mọc lên lúc nào không biết. Bọn trẻ con lớn lên sau này, chúng nó tưởng là cái ghế đá.
– Thế sao không ai nói cho cháu biết ạ? – Thằng Cốm hỏi.
Ông Bồng nhìn nó, rồi nhìn Khiết.
– Vì nói ra thì phải kể chuyện đêm ấy. – Ông nói. – Mà chuyện đêm ấy là chuyện của bà Khuyên. Bà Khuyên chưa kể thì không ai kể.
Khiết nhúng bàn chải vào xô nước, cọ tiếp hai cái tên còn lại. Ông Bồng ngồi trên ghế đẩu, đọc to từng cái tên khi nó hiện ra, và kể về từng người. Anh Lương Văn Mạnh, thợ máy, hai mươi sáu tuổi, chạy vào kéo bình cứu hoả. Chị Hà Thị Thắm, tổ trưởng tổ chuyển sợi, ba mươi mốt tuổi, chạy vào lần thứ nhất cùng cái Vạn. Anh Tô Đình Khải, bảo vệ, hai mươi hai tuổi, chạy vào cuối cùng. Bốn người. Ông Bồng thổi kèn ở đám tang cả bốn người.
Đến gần nửa đêm thì cái bệ đá đã sạch. Dưới ánh đèn pin, mặt đá xám lấm tấm, chữ khắc chìm sâu, rõ từng nét. Khiết đứng dậy, chân tê dại. Anh ngẩng lên. Trên tầng ba, cửa sổ phòng 312 vẫn sáng đèn, và qua cái khe cửa sổ khép hờ, rất khẽ, có tiếng một cái đài đang phát một bài hát về những con tàu.
Tám giờ sáng thứ Bảy, đoàn của phường xuống.
Có ba người: một cán bộ địa chính nhà đất của phường, đeo kính, ôm cặp tài liệu; một anh công an khu vực, trẻ, mặc quân phục, đội mũ kê-pi; và một chị cán bộ tổ dân phố mà cả nhà B4 đều quen. Đi cùng là chị Quyên, trưởng phòng của Khiết, mặc áo vest xám, mặt không vui. Và Đĩnh, áo sơ mi trắng, tay cầm tập hồ sơ.
Người nhà B4 đứng kín sân. Không ai được mời, nhưng ai cũng xuống. Bà Huân đã ra viện từ chiều hôm qua, ngồi trên cái ghế tựa anh Tạo bê từ trong nhà ra, đắp chăn mỏng trên đùi, cây gậy dựng bên cạnh. Bà Khuyên đứng sau ghế bà Huân, hai tay đặt lên lưng ghế. Chị Ngoan đứng ở cửa salon, thằng Cốm đứng cạnh mẹ.
Anh cán bộ địa chính mở cặp tài liệu, đọc to nội dung đơn đề nghị của ông Lã Văn Đĩnh. Rồi anh hỏi:
– Theo hồ sơ, phòng 312 là nhà thuộc sở hữu nhà nước, hợp đồng thuê đứng tên bà Phùng Thị Vạn, sinh năm 1964. Đề nghị bà con cho biết bà Vạn hiện đang ở đâu, để phường làm việc.
Không ai trả lời.
Anh công an khu vực nhìn quanh, rồi nói, giọng nhã nhặn:
– Theo dữ liệu cư trú thì bà Vạn không có đăng ký ở địa chỉ này. Gia đình nào có liên lạc với bà Vạn thì cho chúng tôi xin.
Vẫn không ai trả lời. Đĩnh đứng cạnh chị Quyên, tay cầm tập hồ sơ, mắt nhìn thẳng vào bà Huân. Bà Huân ngồi im, nhìn lại anh ta. Hai người nhìn nhau như hai người chơi cờ đã biết nước tiếp theo của nhau.
Khiết bước lên một bước. Chị Quyên khẽ lắc đầu với anh, rất nhẹ.
Nhưng người lên tiếng trước không phải là Khiết.
– Cái Vạn chết rồi. – Bà Khuyên nói.
Bà buông tay khỏi lưng ghế bà Huân, bước ra giữa sân. Bà Huân không quay lại. Không nói "Khuyên, ngồi xuống". Bà chỉ nhắm mắt lại, hai bàn tay nắm lấy mép chăn trên đùi.
– Cái Vạn chết đêm mười bảy tháng Mười một năm tám mươi ba, trong vụ cháy kho sợi nhà máy chỉ khâu Bông Xanh. – Bà Khuyên nói, giọng phẳng lì, rõ từng chữ, như cái giọng đọc giờ tàu ở nhà ga. – Nó chết vì tôi. Tôi đếm sai người, tôi gào lên là còn người trong kho, nó chạy vào cứu. Không có ai trong kho cả. Nó chạy vào cứu một người không có ở đấy.
Cả sân im phăng phắc. Anh cán bộ địa chính ngừng ghi. Anh công an khu vực bỏ mũ xuống, cầm trên tay.
– Cả cái nhà B4 này giữ phòng nó bốn mươi ba năm, đóng tiền nhà thay nó bốn mươi ba năm, không báo ai, vì không muốn ai hỏi tôi chuyện đêm ấy. – Bà Khuyên nói tiếp. – Nếu có ai phải chịu trách nhiệm vì chuyện này, thì là tôi. Các anh ghi tên tôi. Nguyễn Thị Khuyên, phòng 506.
Bà kéo hai ống tay áo lên, cả hai bên, tới tận khuỷu. Lần đầu tiên, giữa ban ngày, giữa sân, trước mặt cả nhà B4, những mảng da nhăn nhúm màu hồng loang lổ phơi ra dưới nắng tháng Mười một.
Không ai nói gì.
Rồi Khiết đi tới gốc sấu. Anh không nói gì cả. Anh chỉ đứng sang một bên, để lộ cái bệ đá phía sau lưng mình, mặt đá xám sạch bong, bốn cái tên khắc chìm sâu dưới nắng.
Anh cán bộ địa chính là người đi tới đầu tiên. Rồi anh công an. Rồi chị Quyên. Rồi, sau cùng, Đĩnh.
Đĩnh đứng trước cái bệ đá rất lâu. Khiết đứng cạnh anh ta, nhìn anh ta đọc. Đọc dòng chữ in hoa. Đọc ngày tháng. Đọc bốn cái tên. Đọc cái tên thứ ba, và hai con số bên cạnh nó.
1964 – 1983.
Đĩnh mở tập hồ sơ trên tay, rút ra tờ giấy ô li dán băng dính, nhìn dòng ngày tháng ở cuối: năm chín mươi sáu. Nhìn chữ ký "Phùng Thị Vạn", nét mực tím, đều, đẹp, nghiêng, nét của người viết khẩu hiệu hai mươi năm không cần kẻ dòng.
Khiết thấy tay anh ta run. Rất nhẹ, chỉ ở đầu ngón tay cái, chỗ đang giữ mép tờ giấy.
– Chữ của bố tôi. – Đĩnh nói, khẽ tới mức chỉ Khiết nghe thấy. – Cả cái giấy này là chữ của bố tôi.
Anh ta gấp tờ giấy lại, theo đúng đường xé cũ, thành hai nửa chồng lên nhau. Rồi anh ta quay sang anh cán bộ địa chính.
– Tôi rút đơn. – Đĩnh nói, giọng to, đủ cả sân nghe. – Tờ giấy này không có giá trị. Tôi xin rút toàn bộ đề nghị liên quan tới phòng 312.
Anh công an khu vực nhìn anh ta, nhìn tờ giấy, rồi nói, giọng không gay gắt:
– Anh viết cho chúng tôi một văn bản rút đơn, nói rõ lý do. Tờ giấy này anh nộp lại làm tài liệu. Việc phòng 312, phường sẽ báo cáo lên trên để xử lý theo quy định về nhà thuộc sở hữu nhà nước.
Đĩnh gật đầu. Anh ta đưa tờ giấy cho anh công an. Rồi anh ta quay người, đi qua sân, qua những người nhà B4 đang đứng im, không nhìn ai. Tới gần cổng, anh ta dừng lại, nói một câu, không quay đầu lại:
– Bốn căn của tôi, tôi rút đồng thuận.
Rồi anh ta đi ra cổng. Tiếng cửa ô tô đóng sầm. Tiếng máy nổ. Chiếc xe trắng lùi ra khỏi ngõ, quẹt gương vào cột điện, rồi chạy mất.
Chị Quyên đứng cạnh Khiết, tay cầm điện thoại, mặt tái đi. Chị không nhìn anh.
– Bốn căn. – Chị nói. – Em có biết bốn căn là bao nhiêu phần trăm không?
Khiết biết. Anh đã tính đi tính lại cả trăm lần. Ba mươi mốt chữ ký trên ba mươi chín hộ, trừ đi bốn, còn hai mươi bảy. Dưới ngưỡng mà công ty cần để trình phương án.
– Thứ Hai lên gặp chị. – Chị Quyên nói, rồi bỏ đi theo đoàn của phường.
Khiết đứng lại dưới gốc sấu. Thằng Cốm chạy tới, đứng cạnh anh, nắm lấy vạt áo anh. Ở giữa sân, bà Khuyên vẫn đứng, hai ống tay áo vẫn kéo lên tới khuỷu, như quên mất phải kéo xuống. Bà Huân đã đứng dậy khỏi ghế, chống gậy, đi về phía bà Khuyên, từng bước, từng bước một.
Khi tới nơi, bà Huân giơ tay lên. Khiết tưởng bà sẽ tát. Cả sân tưởng bà sẽ tát.
Bà Huân kéo ống tay áo của bà Khuyên xuống, chậm rãi, cẩn thận, cài lại từng cái cúc ở cổ tay, như cài cúc áo cho một đứa trẻ mười tám tuổi vừa đi ca ba về.
— Hết chương 9 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe