Chương 1: Tiếng kẻng lúc sáu giờ sáng
Khổng Minh Khiết gõ ba tiếng vào thanh sắt treo ở chân cầu thang, và chưa đầy một phút sau, cả nhà B4 đổ xuống sân với xô, chậu và một bình cứu hoả hết hạn từ năm 2009.
Anh không cố ý. Sáu giờ sáng Chủ nhật, anh đứng trước cái cầu thang tối om, tay ôm tập hồ sơ dày hai đốt ngón tay, tìm mãi không thấy chuông. Trên tường chỉ có một đoạn ray tàu dài chừng gang rưỡi, treo bằng sợi dây thép gỉ, bên cạnh móc một thanh sắt tròn. Anh nghĩ người ta treo nó ở đây thì chắc để gọi cửa. Anh gõ một tiếng, chờ, không ai thưa. Anh gõ thêm hai tiếng, cho chắc.
Tầng hai có tiếng ghế đổ. Tầng ba có tiếng trẻ con khóc. Tầng bốn có một giọng đàn ông gào lên: "Cháy ở đâu?". Rồi cửa sắt mở loảng xoảng khắp năm tầng, dép lê đập rầm rập xuống bậc xi măng. Một ông cụ mặc bộ đồ ngủ kẻ sọc lao xuống đầu tiên, tay ôm bình cứu hoả màu đỏ đã bạc thành màu cam, vòi xịt chĩa thẳng vào ngực Khiết.
– Cháy đâu? Cháy chỗ nào?
– Dạ không cháy ạ. Cháu gõ cửa.
– Gõ cửa? – Ông cụ nhìn anh, nhìn thanh sắt, rồi nhìn lại anh như nhìn một con gián biết nói. – Ba tiếng là cháy! Một tiếng là họp! Hai tiếng là có người ốm! Cậu ở đâu ra mà không biết?
Khiết định trả lời là anh ở Hà Đông ra, nhưng sân đã đông người. Một chị tóc quấn lô đỏ, áo choàng hoa, tay xách cái xô nhựa đầy nước. Hai đứa trẻ đi chân đất. Một ông béo ở trần, vai vắt cái khăn mặt. Một người đàn bà gầy, tóc bạc cắt ngắn, mặc áo dài tay cài kín cổ tay dù trời tháng Chín còn nóng hầm hập, đứng tít trên chiếu nghỉ tầng hai, không xuống. Và từ cái cửa ngay sát chân cầu thang, một bà cụ nhỏ thó chống gậy bước ra, tóc búi củ hành, mặt bình thản như ngày nào cũng có người gõ nhầm kẻng báo cháy.
– Thôi, giải tán. – Bà cụ nói, không to, nhưng cả sân im. – Thằng này gõ nhầm. Ông Bồng cất cái bình đi, nó xịt ra thì chỉ có bột với gián chết thôi.
Người ta tản dần, vừa đi vừa càu nhàu. Chị tóc lô đỏ đi ngang qua Khiết, khẽ hất xô nước cho sóng sánh ra mũi giày anh, rồi đi tiếp như không. Ông cụ bình cứu hoả đứng lại thêm một lúc, nheo mắt đọc cái thẻ nhân viên đeo trên cổ anh.
– Khổng Minh. – Ông đọc to. – Khổng Minh Khiết. Công ty đầu tư Hưng Lâm. Hoá ra là quân sư của bọn phá nhà.
Rồi ông bỏ đi, vừa đi vừa cười khục khục trong cổ họng, như vừa nhặt được một thứ hay ho để mang về kể.
Bà cụ chống gậy vẫn đứng đó.
– Vào đây. – Bà nói. – Đứng ngoài ấy để người ta ném vỏ chuối vào đầu à?
Phòng 101 rộng chừng mười lăm mét vuông, có thêm một cái gác lửng bằng gỗ. Trên tường treo một tấm bằng khen đã ố vàng, một cái lịch bloc còn dày cộp, một tấm ảnh cưới đen trắng hai người mặc áo công nhân. Bà cụ múc cho anh một bát chè đỗ đen từ cái nồi nhôm trên bếp than tổ ong, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu, hai tay chồng lên đầu gậy.
– Bà tên Huân. Ở đây năm mươi mốt năm. Cậu muốn gì thì nói.
Khiết đặt tập hồ sơ lên đùi. Anh đã tập nói câu này cả tuần, trước gương, trên xe buýt, trong lúc chờ thang máy ở công ty.
– Dạ, cháu là nhân viên dự án của công ty Hưng Lâm. Nhà B4 đã được thành phố đánh giá là nguy hiểm cấp D, phải phá dỡ để xây lại. Công ty cháu được giao làm chủ đầu tư. Trước khi họp hội nghị nhà chung cư, công ty muốn đi từng nhà giải thích phương án bồi thường, tạm cư và tái định cư, để bà con hiểu và ký phiếu đồng thuận ạ.
Bà Huân nghe hết, không ngắt lời. Rồi bà hỏi:
– Thế cậu được bao nhiêu tiền một chữ ký?
Khiết đỏ mặt. Thật ra không có tiền một chữ ký. Có một con số trong bảng giao việc: ba mươi chín hộ, hạn chót hai mươi ba tháng Chạp, và một dòng in đậm cuối trang mà chị Quyên, trưởng phòng của anh, đã gõ bút vào ba lần: "Làm rõ tình trạng phòng 312". Làm xong, anh được lên chính thức. Làm không xong, hợp đồng ngắn hạn của anh hết vào đúng ngày ấy, và công ty sẽ không ký tiếp.
– Dạ, không có tiền một chữ ký ạ. – Anh nói. – Nhưng làm được thì cháu được ký hợp đồng chính thức.
Bà Huân gật đầu, như thể câu trả lời ấy là câu duy nhất bà muốn nghe.
– Thật thà thế là được. Ăn đi, chè nguội bây giờ.
Chè đỗ đen nấu đặc, ngọt sắc, có mùi gừng. Khiết ăn hết bát, ngước lên thì thấy bà đang nhìn anh ăn, cái nhìn của người đã nuôi nhiều đứa trẻ không phải con mình.
– Nhà này bốn mươi phòng. – Bà nói. – Cậu bảo ba mươi chín hộ là đúng. Cậu đã biết phòng nào thừa ra chưa?
– Dạ, phòng 312 ạ. Trong hồ sơ công ty quản lý nhà gửi sang, phòng ấy là nhà thuê của nhà nước, hợp đồng thuê đứng tên bà Phùng Thị Vạn, sinh năm sáu mươi tư. Ba mươi chín phòng kia đều đã mua hoá giá từ những năm chín mươi, chỉ riêng phòng ấy chưa mua. Cháu cần gặp bà Vạn để làm thủ tục.
Bà Huân im lặng một lúc. Ngoài cửa có tiếng xe máy rồ lên, tiếng ai đó gọi con đi đánh răng, tiếng một con chim chào mào hót ở đâu trên tầng hai, hót nghe giống hệt tiếng kẻng lúc nãy, ba tiếng một, rất rõ.
– Cái Vạn đi làm ca ba. – Bà Huân nói. – Chưa về.
– Thế khoảng mấy giờ cô ấy về ạ?
– Ca ba thì về muộn.
Bà đứng dậy, dọn cái bát của anh đi rửa. Câu chuyện, Khiết hiểu, đã hết.
Anh ra sân. Nắng đã lên tới ngọn cây sấu già giữa sân, cây to tới mức một người ôm không xuể, rễ trồi lên làm vỡ cả mảng gạch lát. Dưới gốc sấu có một cái bệ đá thấp, dài chừng một mét, mặt trên phủ kín rêu xanh. Anh ngồi xuống cái bệ ấy, lấy gói xôi xéo mua ở đầu ngõ ra ăn, vừa ăn vừa ngẩng lên đếm các tầng.
Nhà B4 xây năm bảy mươi hai cho công nhân nhà máy chỉ khâu Bông Xanh, năm tầng, mỗi tầng tám phòng nhìn ra hành lang chung. Nhà máy đã dời ra ngoại thành từ hai mươi năm trước, bãi đất cũ thành một khu văn phòng kính xanh, chỉ còn cái nhà tập thể này đứng lại như một cái răng sâu không ai nhổ. Gần nhà nào cũng có chuồng cọp hàn bằng sắt chìa ra ngoài cửa sổ, đựng đủ thứ: xe đạp, chum tương, chậu lan, quần áo phơi, có chuồng còn có cả một cái giường gấp. Tường bong từng mảng to bằng cái mâm. Cái khe nứt chạy chéo từ tầng hai lên tầng bốn ở đầu hồi phía đông, theo báo cáo kiểm định, đã rộng thêm bốn li trong ba năm.
Ăn xong, Khiết lên tầng ba. Anh muốn tận mắt nhìn cái phòng thừa.
Hành lang tầng ba hẹp, tối, có mùi mắm tôm lẫn mùi nhang muỗi. Phòng 311 cửa mở, một cái tivi đang chiếu chương trình nấu ăn, không có ai xem. Phòng 312 thì khác hẳn.
Cửa gỗ sơn xanh lá mạ. Khoá ngoài bằng một cái ổ khoá đồng to bằng nắm tay trẻ con, bóng loáng như có người lau hằng ngày. Trên khung cửa, một cái biển tôn nhỏ viết tay bằng sơn trắng: "P. T. Vạn – 312". Nét sơn còn mới, mới tới mức Khiết đưa ngón tay lại gần thì ngửi thấy mùi dầu thông.
Trước cửa đặt một đôi dép nhựa đen cỡ nhỏ, hai chiếc xếp thẳng hàng, mũi quay vào trong. Bên cạnh là một cái cốc sứ trắng có hoa văn xanh, đầy nước chè. Khiết ngồi xổm xuống, áp mu bàn tay vào thành cốc.
Còn ấm.
Anh đứng lên, nhìn quanh. Hành lang vắng tanh. Từ phòng 311 vẫn vọng ra giọng anh đầu bếp trên tivi: "Bây giờ chúng ta cho hành phi vào". Anh gõ cửa 312, ba tiếng, rồi giật mình nhớ ra cái luật kẻng và đổi thành hai tiếng, rồi lại nghĩ hai tiếng là có người ốm, đứng ngây ra đấy không biết gõ mấy tiếng thì mới là gõ cửa bình thường.
Không ai trả lời.
Anh lôi điện thoại ra, chụp cái biển tên, chụp đôi dép, chụp cái cốc. Lúc anh cúi xuống chụp cái ổ khoá, có tiếng ai đằng hắng ở cuối hành lang. Người đàn bà tóc bạc mặc áo dài tay lúc nãy đang đứng ở đầu cầu thang lên tầng bốn, tay cầm cái chổi chít.
– Cậu chụp cái gì đấy?
– Dạ, cháu chụp để báo cáo công ty ạ. Bác có biết bà Vạn phòng này không ạ?
Người đàn bà nhìn anh rất lâu. Bà khoảng ngoài sáu mươi, gầy, cái gầy rắn của người làm việc tay chân cả đời. Hai ống tay áo cài cúc tận cổ tay.
– Cậu xoá ảnh đi.
– Dạ?
– Xoá đi. Người ta chưa cho phép mà cậu chụp cửa nhà người ta. Ở công ty cậu không ai dạy à?
Giọng bà không gắt, chỉ phẳng lì, như cái giọng đọc giờ tàu ở nhà ga. Khiết luống cuống xoá ba tấm ảnh trước mặt bà. Bà chờ anh xoá xong, gật đầu một cái, rồi quay lưng đi lên tầng bốn, chổi chít kéo lê trên bậc.
Cả ngày hôm ấy Khiết đi gõ được mười một cửa. Bốn cửa không mở. Năm cửa mở ra rồi đóng lại ngay khi nghe tới chữ "phá dỡ". Một cửa cho anh vào, mời nước, nghe anh nói hết ba mươi phút về hệ số bồi thường, diện tích tái định cư, khu tạm cư ở phía Long Biên, rồi hỏi anh có người yêu chưa, có muốn làm quen với đứa cháu gái đang học kế toán không. Cửa cuối cùng là một anh ở tầng năm, đọc phiếu đồng thuận xong thì ký luôn, không hỏi gì, bảo anh: "Phá sớm cho tôi nhờ, tối nào tôi cũng nằm nghe cái tường nó kêu".
Một chữ ký. Ba mươi tám hộ nữa. Và một phòng có người đi ca ba chưa về.
Tối, Khiết về phòng trọ ở Hà Đông, nằm trên cái đệm mút, mở máy tính tra lại hồ sơ. Phùng Thị Vạn, sinh năm 1964, công nhân xưởng nhuộm nhà máy chỉ khâu Bông Xanh. Hợp đồng thuê nhà ký năm 1982. Tiền thuê nhà nộp đều đặn hằng tháng ở xí nghiệp quản lý nhà, không thiếu một kỳ nào trong suốt bốn mươi năm. Không có số điện thoại. Không có căn cước gắn chip. Không có tên trong danh sách cử tri của tổ dân phố mấy kỳ gần nhất. Nếu bà ấy còn đi làm ca ba, thì năm nay bà ấy sáu mươi hai tuổi, và đã đi ca ba bốn mươi năm liền.
Anh gọi cho mẹ. Mẹ anh làm lao công ở một trung tâm thương mại, ca chiều tới mười giờ đêm mới về. Bà nghe anh kể chuyện gõ kẻng thì cười tới mức phải để điện thoại xuống bàn.
– Thế là con làm cả nhà người ta tưởng cháy à?
– Vâng.
– Thế có ai mắng con không?
– Có một bà cho con ăn chè.
Mẹ anh im một lúc.
– Thế là tốt rồi. Ở chỗ mẹ ở hồi bé, ai gõ nhầm kẻng thì phải đi quét sân cả tháng.
Khiết không ngủ được. Mười giờ đêm, anh dậy, mặc áo khoác, đi xe máy quay lại B4. Anh không biết vì sao. Có thể vì cái cốc chè còn ấm. Có thể vì câu "chưa về" của bà Huân, nói ra không giống câu của người nói dối, mà giống câu của người đã nói đi nói lại một điều suốt bao nhiêu năm tới mức nó thành sự thật.
Cổng sắt khu tập thể khép hờ. Sân tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua tán sấu. Anh để xe ngoài cổng, đi bộ lên tầng ba, cố không làm kêu đôi giày.
Hành lang tầng ba tắt đèn. Phòng 311 đã đóng cửa. Ở cuối hành lang, dưới khe cửa phòng 312, có một vệt sáng vàng.
Khiết đứng sững lại. Anh nghe thấy tiếng nhạc, rất khẽ, tiếng một cái đài bán dẫn bắt sóng không rõ, rè rè, một giọng nữ hát bài gì đó về những con tàu và sân ga. Anh rón rén bước tới, từng bước một. Cái ổ khoá đồng vẫn ở đấy, khoá chặt, ở phía ngoài cửa.
Anh giơ tay lên định gõ.
Đúng lúc ấy, vệt sáng dưới khe cửa tắt phụt. Tiếng hát cũng tắt. Trong phòng có tiếng sột soạt, rồi tiếng một cái chốt cửa sổ khẽ cài lại, phía bên kia bức tường, phía không có hành lang, phía chỉ có khoảng không ba tầng nhà.
Khiết đứng trong bóng tối, tay vẫn giơ lên, và nhận ra cái cốc chè trước cửa đã biến mất.
— Hết chương 1 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe