Chương 4: Mười sáu mét vuông nhà anh Tạo
Mảng vữa rơi xuống đúng lúc con bé Na đang đọc to bài tập đọc "Bàn tay mẹ", và nó rơi trúng cái bàn học, cách bàn tay con bé chưa tới một gang.
Tiếng động không to như Khiết tưởng. Chỉ là một tiếng "bộp" đục, như ai ném một cái bao cát xuống, rồi bụi trắng bốc lên mù mịt. Con bé Na ngồi im, miệng còn há ra ở chữ "mẹ", tay vẫn cầm quyển sách. Thằng em nó, bốn tuổi, đang chơi xếp hình dưới sàn, ngẩng lên, nhìn đống vữa vỡ trên bàn chị, rồi phá lên cười như vừa được xem ảo thuật.
Chị Thơ là người phản ứng đầu tiên. Chị lao từ cái bếp ga mini ở góc phòng tới, nhấc bổng con bé Na lên khỏi ghế, xoay nó một vòng, vạch tóc ra xem, vạch cổ áo ra xem, rồi mới ôm chặt lấy nó. Anh Tạo đứng dậy khỏi cái giường, chân trần, ngước nhìn lên trần nhà. Ở đó, ngay trên cái bàn học, giờ là một lỗ hổng to bằng cái mâm, lộ ra mấy thanh thép đã gỉ thành màu nâu đỏ, sần sùi như vỏ cây.
– Lần thứ ba trong năm nay. – Anh Tạo nói, giọng không có vẻ gì ngạc nhiên. – Lần trước rơi xuống nồi canh.
Khiết vẫn còn ngồi trên cái đôn nhựa, tay cầm tập hồ sơ, tim đập thình thịch. Anh nhìn cái lỗ trên trần, nhìn đống vữa trên bàn học, nhìn con bé Na giờ đã bắt đầu khóc trong lòng mẹ, khóc muộn, khóc vì thấy mẹ run chứ không phải vì sợ. Anh đặt tập hồ sơ xuống sàn.
– Anh chị cho các cháu ra ngoài hành lang đi ạ. Em xem chỗ trần còn lại có chắc không.
Anh Tạo nhìn anh như nhìn một người nói chuyện viển vông.
– Cậu xem thế nào? Cậu trèo lên gõ thử à? Gõ mạnh quá thì nó rơi nốt.
Nhưng anh vẫn bế thằng Tôm ra hành lang. Chị Thơ dắt con bé Na theo. Khiết đứng lại một mình giữa phòng 311, nhìn quanh.
Mười sáu mét vuông. Anh đã đọc con số ấy trong hồ sơ, nhưng đọc khác đứng. Một cái giường đôi kê sát tường, trên giường xếp chăn gối thành chồng, ban ngày làm chỗ ngồi. Một cái gác xép bằng gỗ ván ép, cao chưa tới một mét hai, trên ấy trải hai cái đệm, là chỗ ngủ của hai đứa trẻ. Một góc bếp với cái bếp ga mini, cái nồi cơm điện, cái chạn bát. Một cái tủ quần áo nhựa có khoá kéo. Cái bàn học dưới lỗ trần. Và ở góc phòng, sau tấm rèm vải hoa, một cái giường cá nhân, trên ấy có một bà cụ đang ngủ, người nhỏ như đứa trẻ, chăn đắp tới cằm, ngủ say tới mức tiếng vữa rơi cũng không làm bà động đậy.
Cửa sổ phía sau mở ra cái chuồng cọp. Khiết bước tới. Chuồng cọp nhà 311 nhỏ, chật kín những chậu rau thơm trồng trong thùng xốp: húng, tía tô, kinh giới, một khóm sả. Ở đầu chuồng cọp, sát với bức tường giáp phòng bên cạnh, có một tấm ván gỗ lim dày, dài chừng tám mươi phân, gác chéo từ thành chuồng cọp sang bậu cửa sổ của phòng 312. Mặt ván mòn nhẵn, có hai cái khấc sâu, vừa một bàn chân đặt vào. Bên dưới là khoảng không ba tầng nhà, dưới cùng là cái mái tôn nhà để xe.
Khiết đứng nhìn tấm ván rất lâu.
– Cái cầu ấy có từ hồi tôi chưa lấy vợ. – Anh Tạo nói sau lưng anh. Anh ta đã quay vào, đứng tựa khung cửa. – Cậu đừng hỏi ai đi. Hỏi tôi cũng không nói.
– Em chưa hỏi gì ạ.
– Cậu đang hỏi bằng mắt.
Anh Tạo khoảng gần bốn mươi, người to, vai u lên của người làm việc nặng, nước da tái của người làm đêm. Anh làm bảo vệ ca đêm cho một tòa văn phòng trên đường Láng, bảy giờ tối đi, bảy giờ sáng về, ngủ tới trưa, chiều đón con. Chị Thơ bán bún ốc ở đầu chợ từ năm giờ sáng tới mười giờ trưa. Hai người, Khiết nghĩ, chắc mỗi ngày chỉ nhìn thấy nhau lúc trưa với lúc chiều, giữa hai ca làm, trong mười sáu mét vuông này.
Anh nhặt tập hồ sơ dưới sàn lên, phủi bụi vữa.
– Anh Tạo, em hỏi thật. Nhà anh chị có muốn phá đi xây lại không ạ?
– Muốn. – Anh Tạo trả lời không cần nghĩ. – Muốn từ năm năm trước. Cậu nhìn cái trần ấy thì cậu biết.
– Thế sao anh chị chưa ký ạ?
Anh Tạo không trả lời ngay. Anh nhìn ra hành lang, nơi chị Thơ đang ngồi xổm lau mặt cho con bé Na bằng cái khăn ướt.
– Cậu bảo tạm cư ở Long Biên. – Anh nói. – Con bé Na học trường tiểu học cách đây năm trăm mét. Thằng Tôm học mẫu giáo ở ngõ bên cạnh. Vợ tôi bán bún ở chợ đầu ngõ, khách quen mười hai năm. Tôi làm ở đường Láng. Dọn sang Long Biên thì sáng nào vợ tôi cũng phải đi xe máy bốn chục phút sang chợ, ba giờ sáng dậy, con thì ai đưa đi học. Mà thời gian tạm cư là bao lâu? Cậu bảo ba năm. Ở cái nước này cậu đã thấy cái nhà nào xây đúng ba năm chưa?
Khiết không cãi được. Anh đã đọc hồ sơ của mấy dự án cải tạo chung cư cũ trước đây của công ty, và có những dự án tạm cư năm năm, bảy năm.
– Phương án của công ty em có hai lựa chọn ạ. – Anh nói, chậm rãi, để chắc mình nói đúng. – Một là ở nhà tạm cư công ty bố trí. Hai là nhận tiền hỗ trợ thuê nhà hằng tháng, tự đi thuê chỗ ở trong thời gian xây. Nếu nhận tiền, anh chị có thể thuê ngay quanh đây, cho các cháu đi học gần, chị vẫn bán bún được.
– Bao nhiêu một tháng?
Khiết nói con số. Anh Tạo cười, cái cười mệt mỏi.
– Bằng ấy tiền thuê được mười hai mét vuông ở quanh đây. Năm người ở mười hai mét vuông. Còn thua bây giờ.
– Em biết ạ. – Khiết nói. – Nhưng anh cho em ít hôm. Em đi hỏi xem quanh đây có chỗ nào cho thuê giá được không. Em đi hỏi thật, rồi em quay lại báo anh.
Anh Tạo nhìn anh, cái nhìn của người làm bảo vệ đêm, đã quen phân biệt người đến để làm việc với người đến để lấy cái gì đó.
– Cậu đi hỏi thì cậu được gì?
– Em được một chữ ký. – Khiết nói. – Với lại, nhà anh chị mà không phá thì sớm muộn mảng trần thứ tư nó rơi xuống đầu đứa nào.
Anh Tạo không nói gì. Anh cầm cái chổi lên, bắt đầu quét đống vữa trên bàn học vào cái hót rác. Khiết ngồi xổm xuống giúp anh nhặt những mảnh to. Dưới đống vữa, quyển sách tập đọc của con bé Na bị rách một góc, đúng trang "Bàn tay mẹ". Khiết vuốt cho phẳng, đặt lên bàn.
Lúc ấy, bà cụ sau tấm rèm hoa cựa mình.
– Đứa nào đấy? – Bà hỏi, giọng khàn mà rõ.
– Mẹ ngủ đi. – Anh Tạo nói. – Người của công ty xuống.
Bà cụ chống tay ngồi dậy. Mái tóc trắng xõa ra, mỏng như sợi tơ. Bà nheo mắt nhìn Khiết, nhìn cái áo sơ mi trắng, cái quần âu, cái thẻ đeo trên cổ.
– Công ty nào?
– Dạ, cháu ở công ty Hưng Lâm ạ.
– Hưng Lâm là cái gì? – Bà cụ hỏi, rồi tự trả lời. – À, phòng tổ chức. Cậu ở phòng tổ chức nhà máy xuống.
Anh Tạo khẽ lắc đầu với Khiết, ý bảo cứ để bà nói.
– Mẹ tôi lẫn rồi. – Anh nói nhỏ. – Ba năm nay. Năm nay là năm nào bà cũng không biết, nhưng chuyện ngày xưa thì bà nhớ như in. Hỏi chuyện xưởng nhuộm thì bà kể ba ngày không hết.
Bà cụ đã thò chân xuống giường, tìm dép. Khiết vội cúi xuống lấy đôi dép cho bà. Bà xỏ chân vào, nhìn anh rất lâu, rồi nắm lấy cổ tay anh. Bàn tay bà gầy, lạnh, nhưng nắm chặt.
– Cậu xuống làm gì nữa? – Bà hỏi, giọng đột nhiên gay gắt. – Các cậu xuống bao nhiêu lần rồi? Cái phòng ấy không ai lấy được đâu. Ông Lục nói rồi, cả nhà nói rồi.
– Phòng nào ạ? – Khiết hỏi, cổ họng khô.
– Phòng cái Vạn chứ còn phòng nào. – Bà cụ nói, như anh vừa hỏi một câu ngớ ngẩn. – Các cậu muốn lấy phòng nó cho người khác. Ông Lục không cho. Cả cái B4 này không cho.
– Mẹ. – Anh Tạo nói, giọng khác hẳn. – Mẹ nằm xuống đi.
Bà cụ không nghe con. Bà vẫn nắm cổ tay Khiết, nhìn thẳng vào mặt anh, và đôi mắt đục mờ của bà bỗng trong hẳn lên, như mặt nước ao lúc gió vừa lặng.
– Cái Vạn chết cháy rồi. – Bà nói, rõ từng chữ. – Đêm ấy tôi đứng ở cổng xưởng nhuộm, tôi nhìn thấy. Nó chạy vào hai lần. Lần thứ hai nó không ra. Các cậu biết thừa mà còn xuống hỏi.
Không ai nói gì. Ngoài hành lang, thằng Tôm đang hát một bài gì đó ở trường mẫu giáo, lạc giọng, vui vẻ. Trên trần, qua cái lỗ to bằng cái mâm, có tiếng nước chảy róc rách trong đường ống của nhà tầng bốn.
Rồi bà cụ buông tay Khiết ra, ngả lưng xuống giường, kéo chăn lên tới cằm, nhắm mắt lại.
– Tôi buồn ngủ. – Bà nói, giọng đã khàn lại như cũ. – Thằng Tạo đâu, bảo nó đi mua cho mẹ bát bún ốc.
Anh Tạo kéo tấm rèm hoa lại. Anh đứng quay lưng về phía Khiết rất lâu, tay vẫn nắm mép rèm.
– Cậu về đi. – Anh nói, không quay lại. – Hôm khác tôi ký.
Khiết xuống cầu thang, đầu óc ong ong. Ở chiếu nghỉ tầng hai, con chim Kẻng trong chuồng cọp nhà ông Bồng đang hót đúng ba tiếng một, ba tiếng một, cái hiệu báo cháy của nhà B4. Anh dừng lại nghe, và lần đầu tiên anh hiểu tại sao sáng hôm ấy cả nhà lại đổ xuống nhanh tới thế, với xô, với chậu, với cái bình cứu hoả hết hạn mười mấy năm mà không ai chịu vứt.
Anh đi qua cửa phòng 101. Cánh cửa mở hé. Phía sau cánh cửa, đúng như thằng Cốm nói, có dán một tờ giấy kẻ ô đã ngả vàng, nối thêm bằng băng dính nhiều lần, dài tới gần sàn nhà. Cột đầu tiên là tháng, năm. Những cột sau là số phòng. Trong mỗi hàng, đúng một ô có dấu nhân bằng bút bi xanh.
Hàng trên cùng ghi: "Tháng 11 năm 1983".
Bà Huân ngồi trong nhà, trên cái ghế đẩu, đang nhặt rau muống. Bà không ngẩng lên.
– Cậu đọc xong chưa? – Bà hỏi.
Khiết đứng ngoài cửa, không trả lời được.
– Đọc xong rồi thì tối nay mười giờ lên tầng năm, gõ cửa nhà bà Khuyên. – Bà Huân nói, tay vẫn nhặt rau. – Gõ hai tiếng thôi. Nhà ấy có người ốm.
— Hết chương 4 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe