AI Truyện
Người thuê phòng 312 đi ca ba chưa về

🏙️ Đô thị & làm giàu

Mười lăm phút trước ca ba

Người thuê phòng 312 đi ca ba chưa về · Chương 5/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Mười lăm phút trước ca ba

– Cậu sợ độ cao không? – Bà Khuyên hỏi, khi cả hai đã đứng trong chuồng cọp nhà anh Tạo, trước tấm ván lim gác sang cửa sổ phòng 312.

– Dạ, cháu sợ ạ.

Mười giờ kém mười, anh đã gõ hai tiếng lên cửa phòng 506. Bà Khuyên mở cửa ngay, quần áo chỉnh tề như đã ngồi chờ sẵn từ lâu, nhìn anh từ đầu tới chân, dừng lại ở đôi giày da. "Cởi ra. Cầm tay." Thế là anh đi chân đất theo bà xuống tầng ba, qua cánh cửa khép hờ của nhà anh Tạo, ra tới cái chuồng cọp này. Ở đó bà mới quay lại hỏi anh câu ấy, như hỏi giờ.

– Thế thì đừng nhìn xuống. – Bà nói, rồi bước lên tấm ván như bước lên bậc cửa nhà mình.

Khiết đứng nhìn bà. Bà Khuyên sáu mươi mốt tuổi, mặc bộ đồ bộ màu nâu, áo dài tay, cổ tay cài cúc, chân đi dép tổ ong. Bà đặt chân trái vào cái khấc thứ nhất, chân phải vào cái khấc thứ hai, tay vịn vào cái móc sắt đóng sẵn trên khung cửa sổ, rồi nghiêng người, lách vào trong. Cả động tác không quá ba giây. Đó là động tác của người đã làm việc ấy hàng nghìn lần.

Khiết đứng lại một mình trong chuồng cọp. Trong phòng 311 sau lưng anh, chị Thơ và hai đứa trẻ đang ngủ, chị để hé cửa ra vào cho bà Khuyên đi qua, như đêm nào cũng để. Anh Tạo đã đi ca. Bà cụ sau tấm rèm hoa ngáy khe khẽ. Bên dưới chân anh là khoảng không ba tầng nhà, dưới cùng là mái tôn nhà để xe loang loáng ánh đèn đường.

Anh không nhìn xuống. Anh đặt chân trái vào cái khấc thứ nhất. Tấm ván không rung, chắc hơn anh tưởng. Anh đặt chân phải vào cái khấc thứ hai, vươn tay ra, nắm được cái móc sắt, và một bàn tay gầy, khô, rất khỏe từ trong cửa sổ túm lấy cổ áo anh, kéo vào.

Anh ngã ngồi xuống sàn phòng 312.

Bà Khuyên đã bật đèn. Một bóng đèn sợi đốt treo trên dây điện, chụp một cái chao bằng sắt tráng men trắng, ánh sáng vàng vọt. Khiết ngồi trên sàn, nhìn quanh.

Căn phòng nhỏ hơn phòng nhà anh Tạo, chừng mười hai mét vuông. Không có gác xép. Sàn lát gạch hoa xanh đỏ, đã vỡ vài viên, được người ta trát lại bằng xi măng cẩn thận. Kê sát tường là một cái giường đơn bằng gỗ, trên ấy trải chiếu cói, một cái gối thêu hai chữ không đọc rõ, một cái màn tuyn gấp vuông vắn đặt ở đầu giường. Cạnh giường là một cái hòm gỗ có khoá, trên hòm đặt một cái đài bán dẫn vỏ gỗ, mặt loa bọc vải nâu đã sờn, núm vặn bằng nhựa trắng ngả vàng. Trên tường, cao ngang tầm mắt, treo một tấm ảnh chân dung đen trắng trong khung gỗ. Một cô gái tết tóc hai bên, mặc áo sơ mi trắng cổ bẻ, cười, hai răng cửa hơi khểnh.

Nhưng thứ làm Khiết đứng dậy, bước lại gần, là cái khung cửa ra vào.

Khung cửa gỗ, sơn xanh như cánh cửa, và ở phía trong, từ chỗ cách sàn chừng nửa mét lên tới gần đầu khung, chi chít những vạch kẻ ngang bằng bút chì, bút bi, có cả bút dạ. Cạnh mỗi vạch là một cái tên và một con số năm. "Ngoan 1989." "Ngoan 1991." "Tạo 1992." "Thắng 1993." "Hà 1995." "Ngoan 1996." "Bé Mít 2001." "Tùng 2004." "Na 2023." "Tôm 2024." Có những cái tên Khiết chưa nghe thấy bao giờ, những đứa trẻ giờ đã lớn, đã đi, có khi đã có con. Anh đếm sơ sơ, phải tới hơn năm mươi cái tên. Cái vạch cao nhất ghi: "Thắng 2008 – 1m78 – thôi không đo nữa, hết khung." Lẫn giữa những nét bút bi nguệch ngoạc, có một cụm bốn vạch kẻ sát nhau, chữ viết bằng sơn đỏ, đẹp hẳn lên, nét đều như in trên băng rôn. Khiết thấy lạ, định cúi xuống đọc thì mắt anh vướng phải một thứ khác.

Dưới chân khung cửa, trong góc, có một cái nôi gỗ cũ, loại nôi đưa bằng tay, đệm vải hoa đã bạc. Trong nôi đặt một chồng tã vải gấp vuông.

– Đây là phòng để đẻ. – Bà Khuyên nói, như đọc được ý anh. – Ngày xưa nhà này đông, mỗi nhà một phòng, chục người ở mười mấy mét vuông. Đàn bà đẻ xong không có chỗ nằm. Thế là nằm ở đây, ba tháng ở cữ, cả nhà thay nhau mang cơm lên. Con bé Ngoan đẻ ngay trên cái giường kia, đêm mưa bão năm tám mươi lăm, không gọi được xe. Bà Huân đỡ.

Bà đi tới cái hòm gỗ, cầm cái đài lên, lấy cái khăn trong túi áo ra lau mặt loa, lau núm vặn. Rồi bà vặn núm. Cái đài rè rè một lúc, rồi một giọng nữ phát thanh viên vang lên, rất khẽ, giới thiệu chương trình âm nhạc buổi tối.

Bà Khuyên ngồi xuống mép giường, hai tay đặt trên đùi. Khiết đứng im ở khung cửa, không dám ngồi.

– Ngồi xuống đi. – Bà nói. – Mười lăm phút thôi.

Anh ngồi xuống cái hòm gỗ. Cái đài bắt đầu phát một bài hát cũ, giọng ca sĩ nam, hát về con tàu đi qua những miền quê, về một sân ga nhỏ có người đứng đợi. Khiết nhận ra đó là bài hát anh nghe thấy qua khe cửa đêm hôm trước.

Bà Khuyên ngồi nghe, mắt nhìn tấm ảnh trên tường.

– Ca ba bắt đầu lúc mười giờ rưỡi. – Bà nói, không quay sang anh. – Hồi ấy cái Vạn ở phòng này, tôi ở với bố mẹ ở phòng 506. Tối nào trước khi đi ca, nó cũng mở đài nghe mười lăm phút. Đúng mười lăm phút, hết một bài hai bài thì nó tắt, cầm cặp lồng, xuống nhà, đi bộ sang xưởng. Tôi xuống phòng nó nghe đài cùng, rồi hai đứa đi cùng. Nó hơn tôi một tuổi.

Bài hát hết. Phát thanh viên giới thiệu bài tiếp theo. Bà Khuyên vẫn ngồi im, hai tay đặt trên đùi.

– Đêm mười bảy tháng Mười một năm tám mươi ba, kho sợi đã nhuộm cạnh xưởng nhuộm cháy. – Bà nói. Giọng vẫn phẳng lì như cái giọng bảo anh xoá ảnh hôm nọ. – Cháy từ cái bóng đèn chập. Sợi thì khô, chất thành đống cao tới trần. Bọn tôi sáu đứa đang chuyển sợi vào kho. Lửa lên nhanh lắm, cậu không tưởng tượng được đâu. Tôi đứng gần cửa nhất. Tôi chạy ra trước.

Bà dừng lại. Trên đài, một giọng nữ hát bài gì đó về dòng sông quê. Khiết không nghe được lời.

– Ra tới ngoài rồi, tôi đếm. Năm đứa. Thiếu một. Tôi gào lên là cái Lành còn trong ấy. Cái Lành ở tổ tôi, nó hay bị hen, chạy chậm. Tôi gào lên là cái Lành còn trong ấy, Vạn ơi cái Lành còn trong ấy. Cái Vạn quay lại nhìn tôi một cái rồi chạy vào.

Bà Khuyên kéo ống tay áo bên trái lên. Cổ tay, cẳng tay, tới tận khuỷu, là một mảng da nhăn nhúm, bóng, màu hồng nhạt loang lổ, như một tấm bản đồ ai vẽ bằng sáp nến chảy.

– Tôi chạy theo nó. Tới cửa thì cái xà gỗ đổ xuống. Người ta lôi tôi ra.

Bà kéo ống tay áo xuống, cài cúc lại.

– Cái Lành không ở trong ấy. – Bà nói. – Cái Lành đã chạy ra từ trước, ra bằng cửa sau, đứng ở bên kia kho. Tôi đếm sai. Tôi đếm sai, cậu hiểu không? Năm đứa đứng ở cửa trước, một đứa đứng ở cửa sau. Đủ sáu. Tôi đếm sai, rồi tôi gào lên, rồi cái Vạn chạy vào.

Cái đài vẫn phát. Bài hát về dòng sông đã hết, giờ là một bản nhạc không lời, tiếng đàn bầu. Ngoài cửa sổ, ở phía chuồng cọp nhà anh Tạo, khóm sả lay lay trong gió.

Khiết không biết phải nói gì. Anh đã nghĩ tới đủ thứ khi trèo qua tấm ván: một bà cụ bị giấu trong phòng, một vụ chiếm nhà, một mánh khoé đòi bồi thường. Anh không nghĩ tới một đứa con gái mười tám tuổi đếm sai trong đám cháy.

– Nó không có ai. – Bà Khuyên nói tiếp. – Mồ côi từ bé, ở với bà ngoại dưới Thái Bình, bà ngoại mất rồi thì lên đây làm công nhân. Cả cái phòng này, toàn bộ đồ đạc của nó là cái giường, cái hòm, cái đài, hai bộ quần áo, một đôi dép. Người ta làm tang ở nhà máy, rồi phòng tổ chức xuống bảo là sẽ thu lại phòng để phân cho người khác. Ông Lục, chồng bà Huân, hồi ấy là tổ trưởng, đứng ở chân cầu thang gõ một tiếng kẻng. Cả nhà xuống họp. Ông Lục bảo: phòng này để lại cho con Khuyên nằm.

– Cho bác nằm ạ?

– Tôi bỏng nặng, nằm viện hai tháng, về nhà thì phòng 506 có bảy người, bố tôi ho lao, không ai chăm được. Ông Lục bảo cho nó nằm phòng cái Vạn, cả nhà thay nhau lên thay băng. – Bà Khuyên nhìn cái giường bà đang ngồi. – Tôi nằm trên cái giường này bốn tháng. Ngày nào cũng có người lên. Bà Huân, mẹ thằng Tạo, ông Bồng thổi kèn cho tôi nghe. Không ai nhắc tới cái đêm ấy. Không ai bảo tôi đếm sai. Tôi biết là họ biết.

– Thế còn phòng tổ chức nhà máy ạ? Họ không lấy lại phòng ạ?

– Ông Lục không báo. Ông bảo cứ để tên nó đấy, tiền nhà cả nhà góp. Phòng tổ chức xuống mấy lần, ông Lục bảo cái Vạn đi ca ba chưa về. – Bà Khuyên khẽ cười, lần đầu tiên Khiết thấy bà cười, một cái cười nhỏ, méo. – Hồi ấy nhà máy ba ca, ba nghìn công nhân, ai mà nhớ được đứa nào chết đứa nào sống. Họ hỏi ba lần, bốn lần, rồi thôi.

Bà Khuyên liếc cái đồng hồ đeo tay. Mười giờ mười lăm. Bà đứng dậy, vặn núm, tắt đài. Bà lau mặt loa một lần nữa, đặt cái đài về chỗ cũ trên hòm gỗ, xoay cho mặt loa quay về phía giường.

– Tối nào tôi cũng xuống đây mở đài mười lăm phút. – Bà nói. – Để tiễn nó đi ca. Bốn mươi ba năm rồi. Cậu cười thì cứ cười.

Khiết không cười.

– Bác Khuyên, – anh nói, – anh Đĩnh có một tờ giấy, bảo bà Vạn bán quyền thuê phòng này cho bố anh ấy năm chín mươi sáu.

Bà Khuyên quay lại nhìn anh. Lần đầu tiên, trong cái giọng phẳng lì của bà có một cái gì đó vỡ ra.

– Năm chín mươi sáu? – Bà nhắc lại. – Năm chín mươi sáu cái Vạn chết được mười ba năm rồi. Thằng Đĩnh nó lấy đâu ra cái giấy ấy?

– Cháu không biết ạ. Anh ấy bảo tìm thấy trong đồ của bố anh ấy.

Bà Khuyên đứng im rất lâu. Rồi bà đi tới cửa sổ, quay lưng về phía anh.

– Ông Cự. – Bà nói, như nói với chính mình. – Ông Cự vẫn chưa quên.

– Ông Cự là ai ạ? Là bố anh Đĩnh ạ?

Bà không trả lời. Bà trèo ra cửa sổ, bước lên tấm ván, sang chuồng cọp nhà anh Tạo, gọn gàng như lúc vào. Khiết tắt đèn, trèo theo, lần này anh có lỡ nhìn xuống một lần, và phải đứng yên trên tấm ván tới gần mười giây mới bước tiếp được.

Khi anh sang được tới chuồng cọp, bà Khuyên đã đi mất. Chỉ có chị Thơ, mặc áo ngủ, đứng trong bóng tối của phòng 311, tay cầm cốc nước.

– Bà Khuyên kể cho cậu rồi à? – Chị hỏi, rất khẽ.

– Dạ.

– Bà ấy chưa kể cho ai bao giờ. – Chị Thơ nói. – Ai trong nhà này cũng biết, nhưng bà ấy chưa tự mồm kể cho ai bao giờ. Kể cho cậu là bà ấy muốn cậu làm gì đấy.

Sáng hôm sau, bảy giờ, Khiết đang ăn bánh mì ở cổng công ty thì điện thoại đổ chuông. Chị Quyên.

– Khiết à, chị báo em tin vui. – Giọng chị phấn khởi. – Anh Đĩnh vừa nộp hồ sơ chính thức lên công ty, đồng thời gửi văn bản lên phường, đề nghị công nhận quyền thuê phòng 312 cho gia đình anh ấy. Có giấy chuyển nhượng, có xác nhận chữ ký người làm chứng, có cả đơn của bảy hộ trong nhà B4 ký xác nhận là từ năm chín mươi sáu không ai thấy bà Vạn về ở. Đủ cả. Phòng 312 coi như xong, có chủ rồi. Em chỉ việc tập trung lấy nốt chữ ký thôi.

Khiết đứng sững giữa vỉa hè, cái bánh mì còn trên tay.

– Chị ơi, bảy hộ nào ký ạ?

– Chị gửi danh sách cho em đây. Mà sao em hỏi thế? Bảy hộ ký xác nhận thì quá tốt chứ sao. Thôi, chị vào họp.

Điện thoại báo có tin nhắn. Khiết mở ra. Danh sách bảy hộ ký xác nhận. Bốn hộ đầu tiên là bốn căn của Đĩnh. Hai hộ tiếp theo là hai nhà thuê trọ tầng năm, mới chuyển tới năm ngoái.

Hộ thứ bảy là phòng 102. Chữ ký to, nghiêng, quen mắt.

Salon Vạn Ngoan.

— Hết chương 5 —

Mục lục Người thuê phòng 312 đi ca ba chưa về

  1. 1Tiếng kẻng lúc sáu giờ sáng12 phút đọc
  2. 2Chuồng cọp của ông Bồng10 phút đọc
  3. 3Salon Vạn Ngoan9 phút đọc
  4. 4Mười sáu mét vuông nhà anh Tạo10 phút đọc
  5. 5Mười lăm phút trước ca ba12 phút đọc
  6. 6Tờ giấy dán băng dính10 phút đọc
  7. 7Hội nghị ở nhà để xe11 phút đọc
  8. 8Con trai ông Cự11 phút đọc
  9. 9Bệ đá dưới gốc sấu10 phút đọc
  10. 10Bốn vạch sơn đỏ10 phút đọc
  11. 11Quá mười lăm phút10 phút đọc

Về truyện này

Người thuê phòng 312 đi ca ba chưa về là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →