Chương 2: Chuồng cọp của ông Bồng
Con chim chào mào trong chuồng cọp phòng 204 hót đúng nhạc chuông điện thoại của Khiết, và ông Bồng bảo đó là bằng chứng nó thông minh hơn cả ban giám đốc công ty Hưng Lâm cộng lại.
– Nó mới nghe cậu đổ chuông có hai lần. – Ông Bồng nói, vẻ tự hào không giấu được. – Hai lần, cậu hiểu không? Thằng cháu tôi học tiếng Anh bốn năm mà chưa nhại được câu nào cho ra hồn.
Khiết ngồi trên cái ghế nhựa đỏ kê sát cửa sổ, đầu gối chạm vào thành chuồng. Cái chuồng cọp của ông Bồng là cái to nhất nhà B4, hàn bằng sắt hộp sơn xanh, chìa ra ngoài khoảng không gần một mét rưỡi, dài bằng cả bề ngang căn phòng. Trong ấy treo mười hai cái lồng chim tre, cái nào cũng có áo trùm bằng vải kẻ ô, và dưới sàn chuồng có một hàng chậu hoa mười giờ nở đỏ rực. Gió thổi qua, cả cái chuồng khẽ rung, mấy con chim nhảy lách tách trên cầu đậu.
– Bác nuôi bao nhiêu năm rồi ạ?
– Từ năm tôi về hưu. Hai mươi mốt năm. – Ông Bồng giơ hai ngón tay rồi một ngón. – Trước đấy tôi thổi kèn trong đội văn công nhà máy. Kèn trompet. Cả cái khu này, đám cưới đám ma nhà nào cũng có tôi thổi. Về hưu, mồm nó vẫn quen thổi, mà thổi trong nhà thì hàng xóm kêu, nên tôi chuyển sang nghe chim thổi hộ.
Ông kể chuyện như người đã quen kể, có lên có xuống, có chỗ dừng cho người nghe cười. Khiết cười thật, vì ông kể hay. Nhưng anh không quên mình lên đây làm gì. Anh mở tập hồ sơ, rút ra tờ bản vẽ mặt bằng căn hộ tái định cư.
– Bác ơi, phương án của công ty cháu, nhà bác hiện có hai mươi tư mét vuông, sau khi xây lại sẽ được bố trí căn ba mươi hai mét vuông, có ban công, có khu vệ sinh riêng, không phải dùng nhà tắm chung cuối hành lang nữa ạ.
Ông Bồng cầm tờ bản vẽ, đưa ra xa, đưa vào gần, rồi lấy kính lão trong túi áo ra đeo.
– Ban công rộng bao nhiêu?
– Dạ, một mét hai ạ.
– Thế có được hàn chuồng cọp ra ngoài không?
– Dạ không ạ. Nhà mới không được cơi nới. Ban quản lý sẽ phạt.
Ông Bồng gấp tờ bản vẽ làm tư, trả lại cho Khiết, rồi tháo kính ra lau vào vạt áo.
– Thế thì tôi không ký.
– Bác ơi...
– Cậu nhìn đây. – Ông chỉ ra cái chuồng. – Mười hai con chim. Mỗi con một lồng. Mỗi lồng cách nhau bốn mươi phân, gần hơn thì chúng nó cắn nhau qua nan. Ban công một mét hai của cậu để được ba cái lồng, còn chín con kia cậu bảo tôi làm gì? Nấu cháo à?
Khiết mở miệng định nói về giá trị căn hộ mới, về thang máy, về nhà tắm riêng. Rồi anh nhìn mặt ông Bồng và nói khác.
– Bác cho cháu xem mấy con chim được không ạ?
Ông Bồng nhìn anh như nhìn một đứa cháu vừa hỏi một câu đúng. Ông đứng dậy, kéo áo trùm từng lồng một. Con này tên Xẩm, vì nó hót như hát xẩm, ngân dài. Con này tên Ga, vì nó nhại tiếng còi tàu đêm chạy qua phố. Con này tên Kẻng, chính là con đã nhại tiếng kẻng sáng hôm Khiết gõ nhầm, và giờ thì nhại cả chuông điện thoại của anh. Con cuối cùng, trong cái lồng cũ nhất, nan tre đã đen bóng, tên Cái Tí.
– Con này bằng tuổi cái lồng. Mười bốn năm rồi. Chào mào sống thế là thọ lắm. – Ông Bồng thò ngón tay vào nan, con chim già mổ khẽ vào móng tay ông. – Nó là con tôi thuần từ lúc còn đỏ hỏn. Hôm vợ tôi mất, nó hót suốt đêm, không ngủ.
Ông kéo áo trùm lại cho con chim. Khiết ngồi im. Bên dưới, có ai đó đang đập chăn ngoài sân, tiếng bộp bộp đều đều. Mùi sấu chín rụng dưới gốc bốc lên tới tận tầng hai, chua chua ngai ngái.
– Bác ạ, cháu không hứa được là cho hàn chuồng. – Khiết nói. – Nhưng cháu sẽ hỏi bên thiết kế xem ở tầng thượng nhà mới có làm vườn chung được không. Nếu làm được thì có chỗ treo lồng. Cháu chưa biết có được không, nhưng cháu sẽ hỏi.
– Cậu hỏi thật hay cậu nói để tôi ký?
– Cháu hỏi thật. Còn bác ký hay không thì để sau.
Ông Bồng nhìn anh thêm một lúc.
– Cậu tên Khổng Minh mà nói chuyện chẳng mưu mẹo gì cả. – Ông nói. – Thế thì không nên đặt tên ấy.
– Bố cháu đặt ạ. Bố cháu thích đọc Tam Quốc.
– Thế bố cậu đâu?
– Bố cháu đi từ hồi cháu lên ba ạ.
Ông Bồng không hỏi thêm. Ông rót cho Khiết một chén nước chè vối, đặc như nước thuốc bắc, rồi ngồi xuống, tay vỗ vỗ lên đầu gối.
– Hôm qua cậu lên tầng ba lúc mười giờ đêm phải không?
Khiết giật mình.
– Sao bác biết ạ?
– Cái nhà này, ai đi lên đi xuống thì cái cầu thang nó kể hết. Cậu đi giày da, đế cứng, bước nó lẹp xẹp khác hẳn dép lê. – Ông Bồng nhấp một ngụm chè. – Tôi khuyên cậu thật. Mười giờ đêm thì đừng lên tầng ba.
– Có chuyện gì ạ? Cháu thấy trong phòng 312 có đèn sáng, có cả tiếng đài.
– Thì đấy. Người ta nghe đài. Cậu lên làm gì cho người ta mất hứng.
– Nhưng cửa khoá ngoài ạ.
– Cửa khoá ngoài thì người ta trèo cửa sổ. – Ông Bồng nói, giọng tỉnh khô, như nói chuyện trời mưa. – Ở cái nhà này người ta trèo cửa sổ suốt. Hồi tôi còn trẻ, đi đám cưới về say, chìa khoá rơi đâu mất, tôi trèo qua chuồng cọp nhà bên cạnh sang nhà mình suốt. Vợ tôi cầm chổi đứng chờ ở cửa sổ.
Anh định hỏi ai là người trèo vào phòng 312, nhưng ông Bồng đã đứng dậy, đi ra chuồng cọp, kéo áo trùm cho từng con chim, ý bảo cuộc thăm đã hết. Khiết cảm ơn, xếp hồ sơ vào cặp. Lúc anh ra tới cửa, con chim Kẻng trong chuồng cất tiếng hót, đúng nhạc chuông điện thoại của anh, và anh theo phản xạ thò tay vào túi quần, làm ông Bồng cười tới mức phải vịn vào thành chuồng.
Buổi chiều, Khiết ngồi ở quán trà đá đầu ngõ, ghi chép lại những gì đã hỏi được. Quán trà đá là cái bàn gỗ thấp kê dưới gốc bàng, chủ quán là một bà cụ móm mém chỉ bán trà đá, thuốc lào và kẹo lạc. Bà gọi anh là "cậu công ty", và anh nghi cả khu đã gọi anh như thế từ hôm qua.
Danh sách của anh giờ có ba mươi chín dòng. Một dòng đã có dấu tích đồng ý. Dòng phòng 204 anh ghi: "Ông Bồng – chim – hỏi KTS vườn mái". Dòng phòng 101: "Bà Huân – ?". Dòng phòng 312, anh để trống.
Anh gọi cho chị Quyên, trưởng phòng, kể sơ qua.
– Em đi một ngày rưỡi được một chữ ký? – Giọng chị Quyên trong điện thoại nghe như đang vừa nói vừa đi rất nhanh, tiếng giày cao gót gõ lộc cộc. – Khiết ơi, em có bốn tháng, ba mươi tám chữ ký, em tính xem mỗi tuần em phải được bao nhiêu.
– Dạ, em biết ạ. Nhưng mà người ta còn chưa tin em.
– Người ta không cần tin em. Người ta cần tin cái phương án. Mà phương án của mình tốt, em biết mà, diện tích tăng, có tạm cư, có hỗ trợ tiền thuê nhà. Em cứ đưa giấy ra, giải thích cho rõ, ai không ký thì để sau. Còn cái phòng 312 thế nào rồi?
– Dạ, em chưa gặp được người thuê. Người ta bảo cô ấy đi làm ca ba.
– Ca ba? Bốn mươi năm ca ba? – Chị Quyên bật cười. – Thôi được, em cứ ghi lại. Mà này, có một anh tên Đĩnh vừa gọi lên công ty hỏi số em. Anh ấy bảo anh ấy có bốn căn ở B4, muốn hợp tác. Chị cho số rồi. Người như thế em phải giữ, có bốn chữ ký trong một người đấy.
Khiết cúp máy, chưa kịp uống hết cốc trà đá thì một chiếc xe ô tô bảy chỗ màu trắng dừng ngay đầu ngõ, chặn mất nửa lối đi. Một người đàn ông bước xuống, ngoài bốn mươi tuổi, áo phông có cổ, quần kaki, đồng hồ to bản, tóc vuốt gọn. Anh ta đi thẳng tới bàn trà đá, chìa tay ra.
– Khổng Minh Khiết phải không? Anh là Đĩnh. Lã Văn Đĩnh.
Bàn tay anh ta khô, nắm chặt, lắc hai cái. Anh ta ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện, gọi một cốc trà đá, châm một điếu thuốc, rồi nói luôn như người không có thời gian để rào đón.
– Anh có bốn căn ở B4. Hai cái ki ốt tầng một, căn 401 với căn 503. Anh mua lại của mấy nhà cần tiền, giấy tờ đầy đủ, sổ hồng cả. Anh ký đồng thuận luôn, cả bốn căn. Em mang giấy ra đây anh ký.
Khiết ngồi thẳng lưng lên. Bốn chữ ký. Trong một buổi chiều.
– Dạ, em cảm ơn anh. Em có mang theo phiếu ạ.
– Từ từ. – Đĩnh giơ tay lên. – Anh ký, nhưng em phải giúp anh một việc. Em có danh sách bà con. Em cho anh biết nhà nào còn lăn tăn, anh nói chuyện giúp em. Anh quen hết cái nhà này. Bố anh ở đây từ năm bảy mươi tư, anh đi lon ton ở cái cầu thang kia từ lúc chưa biết nói. Người ta nghe anh hơn nghe em.
– Dạ, danh sách bà con thì em không đưa được ạ. Thông tin cá nhân của người ta.
Đĩnh nhìn anh, cười, cái cười của người lớn nhìn đứa trẻ đọc nội quy.
– Được. Em làm đúng. Anh thích người làm đúng. – Anh ta rít một hơi thuốc. – Thế thì anh nói luôn việc thứ hai, việc này em phải giúp, vì nó là việc của em.
Anh ta thò tay vào túi áo ngực, rút ra một cái phong bì giấy xi măng đã cũ, gấp làm đôi, mép sờn. Anh ta không mở ra, chỉ đặt lên bàn, ngay cạnh cốc trà đá của Khiết, rồi lấy ngón tay gõ gõ lên đấy.
– Phòng 312. – Đĩnh nói. – Em đang đi tìm chủ phòng ấy đúng không?
– Dạ. Hợp đồng thuê đứng tên bà Phùng Thị Vạn.
– Bà Vạn bán lại quyền thuê phòng ấy cho bố anh từ năm chín mươi sáu rồi. Giấy đây. Bố anh mất năm ngoái, anh là con trưởng. – Đĩnh dụi điếu thuốc vào cái gạt tàn làm bằng vỏ lon bia. – Phòng 312 là của anh, em ạ. Cả cái nhà B4 ấy biết thừa, mà không ai chịu nói ra.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe