Chương 8: Đêm nước lên tới trính
Nước lạnh hơn cô tưởng, và mạnh hơn cô tưởng gấp mười lần.
Mới bước được sáu bước, nước đã lên tới đầu gối, kéo hai chân cô về một phía như có ai nắm cổ chân mà giật. Hạ chới với, đôi giày tuột khỏi tay, trôi mất vào bóng tối. Cô đứng không vững, nghiêng người, và trong một giây cô hiểu ra mình vừa làm một chuyện ngu nhất trong đời.
Một bàn tay túm lấy cổ áo mưa của cô, lôi ngược lại.
– Điên hả? – Giọng Tín, hét sát tai cô. – Nước ni cuốn trâu đó Hạ! Lên đây!
Tín đứng trên một chiếc ghe nhôm nhỏ, máy nổ phành phạch, cái đèn pin kẹp trên miệng. Anh kéo cô lên ghe, ấn cô ngồi xuống khoang, rồi quay mũi ghe vào thôn. Áo anh ướt sũng, mặt tái mét.
– Má anh, – anh nói, giọng run. – Bả không chịu đi. Chiều anh gọi, bả nói năm mô cũng rứa, nước lên rồi xuống. Giờ gọi không được nữa.
Chiếc ghe chạy chậm giữa dòng nước. Đèn pin quét qua những thứ quen thuộc giờ thành lạ hoắc: ngọn hàng rào dâm bụt nhà o Lợi nhô lên khỏi nước, mái lò bánh tráng của chị Mến chỉ còn cái chóp, tấm bạt xanh của quán nước đầu thôn trôi lừng lững. Cây khế ở bến chìm gần nửa thân.
Nhà ngoại vẫn đứng đó, nước đã lên tới ngang cửa sổ. Trên gác có ánh đèn.
Chiếc ghe của Nghiễm đang cập vào khung cửa sổ hông nhà, chỗ mấy thanh song gỗ đã được tháo ra. Anh đỡ một bà cụ từ ghe trèo qua cửa sổ, lên cái thang tre. Trên gác có người đưa tay xuống kéo. Cái đèn đội đầu của anh lia qua, dừng lại trên mặt Hạ.
Một giây. Anh không nói gì. Rồi anh nói, giọng khàn đặc:
– Lên gác. Nấu cái chi nóng. Có người lạnh.
Bà cụ anh vừa đỡ lên là má Tín. Tín nhảy khỏi ghe, bám song cửa trèo theo, gọi má ơi má ơi. Hạ trèo lên sau cùng.
Trên gác, dưới ánh một cây đèn dầu và hai cây nến, có mười bốn người.
O Lợi ngồi ở góc, ôm cái hộp sắt đựng tiền của tiệm tạp hóa. Chị Mến ngồi cạnh, thằng Sún gối đầu lên đùi mẹ, mắt mở thao láo. Bà Tư răng đen quấn chăn, miệng vẫn nhai trầu. Một cặp vợ chồng trẻ ở cuối xóm, người vợ bụng đã to, tay ôm bụng, người chồng ngồi sau làm cái lưng tựa. Hai đứa nhỏ nhà o Hai bánh bèo, trong đó có thằng nhỏ bị lật ghe hôm đua. Má Tín, run cầm cập. Một con chó vàng nằm sát vách, ướt như chuột. Và ông Bồng, ngồi xếp bằng ngay giữa gác, chỗ tấm ván mới nhất, cây gậy đặt ngang đùi.
– Đọt về rồi đó, – ông nói. – Lấy đồ trong thùng ra nấu đi. Thùng nhôm thứ hai.
Hạ mở cái thùng nhôm thứ hai, cái thùng mà mười mấy năm trước ngoại đuổi cô xuống khi cô định leo lên mở.
Trong đó có một bao gạo hai chục ký buộc kín miệng. Một hũ muối hột. Một chai nước mắm. Một cái lò than nhỏ bằng đất nung, một bao than, một hộp diêm bọc trong túi ni lông ba lớp. Mấy cái chén sành. Và cái nồi đất của ngoại, đáy nồi còn bóng lớp sáp ong.
Hạ ngồi im mất mấy giây, nhìn mấy thứ đó. Rồi cô hiểu. Cái gác này không phải để chứa lúa giống. Cái gác này là chỗ để ngồi khi nước lên. Ngoại không chuẩn bị cho một người. Hai chục ký gạo là cho cả xóm.
Cô mở hé hai cánh cửa thông gió ở đầu hồi, chỗ gió lùa vào mà mưa không tạt, đặt cái lò than sát đó. Đốt than trong chỗ kín là chết người, ở bếp nhà hàng người ta dạy điều đó trước cả dạy cầm dao. Than bắt lửa. Cô vo gạo bằng nước mưa hứng từ mái, bắc nồi cháo.
Nước tiếp tục lên.
Hạ nghe nó lên. Tiếng nước vỗ vào cột nhà, lúc đầu xa, rồi gần dần. Tiếng mấy cái ghế nhựa dưới nhà nổi lên, va vào nhau lục cục. Tiếng bộ ván gõ, bộ ván cô ngủ mỗi đêm, kêu kèn kẹt khi nước nâng bổng nó lên. Mỗi lần có ai rọi đèn pin xuống, mặt nước lại cao hơn một chút, đục ngầu, lềnh bềnh rác và lá.
Mười một giờ, nước ngập bàn thờ. Tín với người chồng trẻ đã kịp bưng bát hương và ảnh ngoại lên gác từ trước. Ảnh ngoại đặt dựa vào thùng gạo, ngoại nhìn ra giữa gác bằng đôi mắt hiền, cái miệng mím như sắp nói một câu trách yêu.
Mười hai giờ, nồi cháo chín. Hạ múc cho từng người. Má Tín trước, rồi bà Tư, rồi người vợ đang bầu, rồi mấy đứa nhỏ. Cháo trắng, chỉ có muối và một chút nước mắm, không hành không tiêu. Mười bốn người ăn trong im lặng, tiếng muỗng chạm chén sành nghe rõ giữa tiếng mưa.
– Cháo bà Út, – bà Tư răng đen nói khẽ, nhai chậm. – Năm chín chín cũng ăn cháo ni. Cũng ngồi chỗ ni.
Ông Bồng không nói gì. Ông ăn hết chén cháo, đặt chén xuống, rồi nhìn lên trính.
O Lợi là người đầu tiên phá cái im lặng sau bữa cháo. O mở cái hộp sắt ôm khư khư từ đầu tối. Trong đó không phải tiền, hay không chỉ có tiền. Có mấy xấp tiền lẻ, mấy cái giấy tờ nhà, và một bịch kẹo gừng to bằng nắm tay. O chia kẹo cho mấy đứa nhỏ, mỗi đứa hai viên, rồi chia cho người vợ đang bầu ba viên, nói ăn kẹo gừng cho ấm bụng, cho khỏi nôn.
Rồi o lết tới ngồi cạnh Hạ, bên cái lò than, chìa ra một viên.
– Mi giận tau không?
Hạ nhận viên kẹo. Giấy gói kẹo ướt nhẹp.
– Không, o.
– Xạo. – O Lợi nói. – Mặt mi giận ba tuần rồi.
– Hồi nãy thì giận. – Hạ bóc kẹo bỏ vô miệng. Cay xè. – Giờ hết rồi.
O Lợi gật gật, rồi bất thình lình đưa tay vuốt tóc Hạ một cái, vụng về. Rồi o lết về góc của mình, ôm lại cái hộp sắt, nhắm mắt niệm Phật tiếp, như chưa có chuyện gì xảy ra.
Nghiễm đi đi về về ba lần. Mỗi lần anh trở về là có thêm người: một ông già mù ở cuối xóm, hai vợ chồng già nhà bán vịt, một đứa con gái mười lăm tuổi ôm con mèo. Lên tới mười bảy người. Mỗi lần anh trèo qua cửa sổ, nước chảy ròng ròng từ tóc anh xuống, Hạ đưa anh một chén cháo. Anh ăn đứng, ba hớp là hết, rồi đi. Hai người không nói với nhau một câu nào ngoài "cháo nè" và "ừ".
Lần thứ ba, lúc anh đưa trả chén, ngón tay anh chạm tay cô. Lạnh như đá.
– Anh nghỉ chút đi, – cô nói.
– Còn nhà ông Năm Đen ngoài bãi bồi. Ổng ở một mình.
– Nước giờ mạnh lắm.
– Ừ. – Anh nhìn cô một giây, ánh đèn dầu chiếu nghiêng mặt anh. – Biết mà.
Anh đi.
Hai giờ sáng, mặt nước lên cách sàn gác chưa tới một gang tay.
Mọi người đều thấy. Không ai nói ra. Đứa con gái mười lăm tuổi ôm con mèo khóc rấm rứt. Người vợ đang bầu nắm chặt tay chồng. O Lợi ôm cái hộp sắt sát hơn vào ngực, môi lẩm nhẩm niệm Phật. Tín ngồi cạnh má, choàng tay qua vai bà, mắt đăm đăm nhìn xuống mặt nước.
Rồi ở góc gác phía Tây, tấm ván duy nhất chưa được thay kêu một tiếng rắc.
Ông Bồng chống gậy đứng dậy.
– Bên đó dồn qua đây, – ông nói, giọng bình thản như bảo con cháu dọn mâm. – Đứng bên ván mới. Ván mới chịu được.
Mọi người dịch qua. Tấm ván cũ ở góc nứt dọc một đường, võng xuống, nhưng không gãy. Ông Bồng nhìn nó, lắc đầu.
– Tấm đó tau tính thay tuần sau, – ông nói với không ai cả. – Trễ một tuần.
Hạ nhìn những tấm ván mới dưới chân mười bảy con người. Ván mít, còn thơm mùi nhựa, ông Bồng đã cưa, đã bào, đã đóng suốt tháng Tám, tháng Chín, trong khi cô đứng dưới nói ông thay chi cho tốn công. Cô nhớ lại câu ông nói ở bến buổi sáng đầu tiên: tốt là tốt với người ở trên đất.
Cô ngước lên trính. Cái lon sữa bò vẫn treo ở đó, cách mặt nước chừng hai mét. Ba vòng dây cước.
– Nước có lên tới trính không ông? – cô hỏi.
Ông Bồng cũng ngước lên.
– Năm chín chín, nước cách cái lon một gang tay, – ông nói. – Một gang tay của bà Út.
Không ai ngủ. Mưa vẫn trút. Ba giờ, bốn giờ. Nước dừng lại ở chỗ cách sàn gác một đốt ngón tay, liếm vào mép ván, lùi ra, liếm vào. Rồi nó đứng yên. Đứng yên lâu tới mức người ta không dám tin, cứ chốc chốc lại có người rọi đèn xuống coi.
Năm giờ, trời hửng. Ánh sáng xám bạc lọt qua khe ngói. Mặt nước vẫn còn đó, nhưng đã lùi được một gang tay. Bà Tư răng đen là người đầu tiên lên tiếng, bà nói nước rút rồi, rồi bà khóc, bà cụ tám mươi tuổi khóc như con nít. Cả gác thở ra một lượt, có người cười, có người khóc theo. Thằng Sún ngồi bật dậy, dụi mắt, hỏi mẹ nó đã tới giờ đi học chưa. Chị Mến ôm chặt nó vào ngực, cười ra nước mắt, nói hôm nay trường nghỉ, con ngủ tiếp đi. Con chó vàng đứng dậy, giũ lông, nước bắn tung tóe lên mặt mấy người ngồi gần, mà không ai mắng nó.
Hạ đứng dậy, đi tới cửa sổ hông nhà, nhìn ra.
Cả thôn Bàu Lăng là một mặt nước nâu đỏ mênh mông, lổn nhổn những mái nhà, ngọn cây, cột điện. Ở xa, ngoài bãi bồi, có một mái tôn nhô lên khỏi nước. Không thấy người.
Không thấy cái đèn đội đầu nào. Không thấy chiếc ghe nào.
Ông Bồng đi tới đứng cạnh cô. Ông không nói gì. Ông chỉ nhìn ra phía bãi bồi, hai tay nắm chặt đầu cây gậy, mấy đốt ngón tay trắng bệch.
Nghiễm đi từ trước hai giờ sáng. Bây giờ đã là năm giờ.
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe