Chương 7: Mưa đầu mùa
Nghiễm bắt đầu dọn vườn vào một buổi sáng cuối tháng Chín, không báo trước, không nói với ai.
Hạ thức dậy vì một âm thanh lạ: tiếng rễ cây bị kéo khỏi đất, nghe như vải bị xé. Cô ra hiên. Ngoài vườn, ba luống húng đã trơ đất nâu. Nghiễm đang quỳ ở luống thứ tư, nhổ từng bụi, giũ đất ở rễ, xếp thành đống trên một tấm bao tải. Anh làm đều tay, chậm rãi.
Cô đứng nhìn một lúc. Rồi cô thấy anh không bỏ đống húng đó đi. Anh ngồi xuống bờ mương, lặt từng ngọn già có bông, tuốt bông vào cái nón lá lật ngửa. Hạt húng đen nhỏ như hạt mè rơi lả tả. Tuốt xong một nắm, anh thổi nhẹ cho bay hết vỏ khô, rồi trút hạt vào một cái hũ thủy tinh. Rồi tuốt nắm khác.
Anh không nhìn lên hiên. Cô biết anh biết cô đứng đó.
Hạ quay vô nhà. Cô bắc nồi nước, rửa rau, chặt thịt, như mọi ngày. Hôm đó có hai đoàn khách. Từ trong bếp, cô vẫn nghe tiếng rễ cây bị kéo khỏi đất, đều đặn, cả buổi.
Từ sau bữa ký cọc, cái quán vẫn mở, nhưng mọi thứ đã khác. O Lợi không qua ngồi buôn chuyện nữa. Đá với nước ngọt o cho thằng Sún mang sang, tiền thì o bảo để cuối tháng tính, rồi cuối tháng cũng không thấy o qua lấy. Ông Bồng vẫn ra bến mỗi sáng, nhưng khi Hạ đi ngang, ông chỉ gõ ống điếu vào mạn đò một cái, không gọi cô xuống ăn khoai.
Chỉ có chị Mến là nói thẳng.
– Rứa quán đóng, tui với thằng Sún bán ai?
Hai người ngồi dưới gốc khế, giữa hai đoàn khách. Chị Mến cầm cái quạt nan quạt lia lịa dù trời không nóng lắm.
– Khách Tây coi tráng bánh xong là qua đây ăn. Mấy tháng ni tui bán bánh được gấp ba. Thằng Sún đóng được tiền học thêm. Cô đi rồi, khách coi bánh xong đi luôn, ai ăn.
– Chị nấu đi.
– Tui nấu? – Chị Mến bật cười, cái cười chua chát. – Tui nấu ai ăn. Tui chỉ biết tráng bánh.
– Chị tráng bánh mười mấy năm. Tráng bánh khó hơn nấu canh.
Chị Mến nhìn cô, chưa tin.
Từ hôm đó, chiều nào sau khi khách về, Hạ cũng dạy chị Mến nấu. Không phải cả thực đơn. Chỉ năm món: thịt ba chỉ luộc cuốn bánh tráng, cá bống kho tiêu, đậu que xào tỏi, canh rau, và một đĩa ram. Năm món mà một người tráng bánh giỏi có thể nấu được mỗi ngày ở nhà mình, cho mười tới mười lăm khách. Cô dạy chị cách chọn cá bống cho tươi, nhìn mang, bóp bụng. Dạy chị kho cá trong nồi đất, lửa liu riu, rắc tiêu lúc tắt bếp chứ không phải lúc đầu. Dạy chị đứng bếp mà không cuống: làm món lâu trước, món nhanh sau, bày mâm từ món nguội tới món nóng.
Chị Mến học chậm, cuống, làm khét hai nồi cá. Có hôm chị ngồi bệt xuống nền bếp khóc, nói thôi tui không làm được đâu cô ơi. Hạ không dỗ. Cô đặt con dao vào tay chị, nói: làm lại. Y như anh Trịnh đã làm với cô năm mười tám tuổi.
Tuần thứ ba, chị Mến kho một nồi cá bống mà Hạ nếm xong phải đứng im mấy giây.
– Ngon hơn của tui, – cô nói.
– Xạo.
– Thiệt. Chị kho mặn hơn một chút. Người miền ni ăn mặn hơn tui quen.
Chị Mến đứng nhìn nồi cá, rồi nhìn cô, rồi bất ngờ ôm chầm lấy cô, mùi khói lò bánh tráng bám đầy trên tóc chị. Thằng Sún đứng ở cửa bếp, cầm cái quạt nan, không hiểu sao mẹ nó lại khóc rồi lại cười.
Hạ gọi cho công ty du lịch, nói từ tháng Mười Một các đoàn chuyển qua ăn ở nhà chị Mến, cách đó hai chục bước chân, món vẫn vậy. Người bên kia hỏi đi hỏi lại có chắc không. Cô nói chắc.
Đầu tháng Mười, trời bắt đầu chuyển mưa.
Không phải mưa rào mùa hè, rào một cái rồi tạnh. Mà là mưa dầm, hạt nhỏ, kéo dài từ chiều tới sáng, từ sáng tới chiều. Sông dâng lên từng chút. Mỗi sáng Hạ ra bến lại thấy bậc đá thấp nhất chìm thêm một bậc. Nước sông đổi màu, từ xanh đục sang nâu đỏ như nước gạch cua.
Cả xóm bắt đầu làm những việc mà Hạ chỉ lờ mờ nhớ từ hồi nhỏ. Người ta kê tủ lên gạch, chuyển bao lúa lên giàn, buộc thêm dây cho ghe, đóng thêm cọc cho chuồng heo. O Lợi dồn hàng trong tiệm lên mấy cái kệ cao nhất. Chị Mến lấy bạt phủ lò bánh tráng. Không ai hoảng hốt, cũng không ai nói nhiều. Người ta làm như làm một việc của mùa, như cấy, như gặt.
Vườn sau nhà lúc này đã trống hơn một nửa. Nghiễm dọn từng luống, mỗi ngày một ít. Hũ hạt giống trên bờ mương đã thành ba hũ, bốn hũ. Có một lần Hạ thấy anh đứng im giữa vườn rất lâu, dưới mưa, không đội nón, nhìn mấy luống tía tô còn lại. Rồi anh cúi xuống nhổ tiếp.
Chiều đó, cô lấy gói tiền dưới hũ gạo ra, đi ra bờ mương, đặt lên tấm bao tải cạnh mấy hũ hạt giống.
– Tiền của anh.
Nghiễm nhìn gói tiền, nhận ra ngay. Anh không cầm lên.
– Tiền của bà Út.
– Ngoại không lấy.
– Thì bà không lấy. – Anh nói. – Chứ đâu phải tui lấy lại.
Hai người đứng hai bên gói tiền, mưa lất phất rơi xuống lớp ni lông kêu lộp độp. Hạ quay về, để nguyên gói tiền ở đó. Sáng hôm sau, gói tiền nằm trên bậc cửa bếp, ngay cạnh rổ rau, được bọc thêm một lớp lá chuối cho khỏi ướt. Rổ rau lần này nhỏ hơn mọi khi, vì vườn đã gần hết rau.
Cô nhìn gói tiền và rổ rau một lúc lâu. Rồi cô cất gói tiền lại dưới hũ gạo. Có những thứ đẩy qua đẩy lại hoài cũng không có chỗ để, chỉ còn cách để lại chỗ người đã chọn cho nó.
Thứ Năm, Vĩ gọi.
– Em mời chị ăn tối được không? Trên phố. Coi như cảm ơn chị đã tin bên em. Thứ Bảy, nếu chị rảnh.
Hạ định từ chối. Rồi cô nhìn ra vườn trống, nghe tiếng mưa trên mái ngói, nghĩ tới cái bộ ván một mình mỗi tối, và cô nhận lời.
Sáng thứ Bảy, lúc cô ra bến rửa rổ, ông Bồng đang ngồi trên đò, không gõ ống điếu. Ông nhìn trời. Mây phía thượng nguồn đen kịt, sà xuống thấp tới mức gần chạm ngọn tre.
– Đọt, – ông gọi, lần đầu tiên sau mấy tuần. – Tối ni mi đi phố hả?
– Dạ.
– Đừng đi.
– Con hẹn rồi ông.
Ông Bồng nhìn cô một lúc. Rồi ông chỉ tay lên phía thượng nguồn.
– Trên nớ có hồ thủy điện. Mưa cỡ ni ba ngày là người ta xả. Xả thì nước về tới đây nhanh lắm. Tối ni đừng đi xa.
– Loa thôn có nói chi đâu ông.
– Loa thôn nói thì trễ rồi. – Ông nói, rồi quay đi, chống sào đẩy đò vô bờ, buộc thêm hai vòng dây vào gốc khế. Hạ thấy ông buộc kỹ hơn mọi khi.
Cô vẫn đi. Cô tự nhủ ông già nào cũng lo xa. Cô mặc cái váy duy nhất mang từ Sài Gòn về, khoác áo mưa, ngồi sau xe ôm chạy lên phố.
Vĩ chọn một nhà hàng nhỏ bên bờ sông trong phố cổ, đèn lồng treo dưới mái hiên, mưa rơi lấp lánh qua ánh đèn. Anh nói chuyện dễ chịu, hỏi về Sài Gòn, về nghề bếp, kể về những dự án anh đã làm ở Nha Trang, Phú Quốc. Anh không nhắc tới đất cho tới món tráng miệng.
– Em nói thật với chị một chuyện, – anh nói, xoay xoay cái ly nước. – Em thích chị. Từ hôm ăn bữa cơm đầu tiên dưới gốc khế. Em biết chị sắp về Sài Gòn. Em không đòi gì. Chỉ là em không muốn chị đi mà em chưa nói.
Hạ nhìn ra sông. Nước sông trong phố cũng đã lên sát mép kè, đục ngầu, cuốn theo những cụm lục bình trôi nhanh bất thường.
– Cảm ơn anh, – cô nói.
– Em hiểu. – Vĩ cười, không buồn lắm, kiểu người đã quen với những câu trả lời như vậy. – Em hỏi cái này không liên quan nha. Ở dưới đó, mùa lũ nước lên tới đâu?
– Tui không biết. Tui không ở đây mùa lũ từ hồi nhỏ.
– Bên em khảo sát rồi, mấy năm lớn nước lên gần hai mét. Nên bên em sẽ đổ cát nâng nền cả khu lên hai mét rưỡi. – Anh nói, giọng chuyên môn. – Mười hai căn nhà gỗ, hồ bơi, đều nằm trên nền cao. Nước lên thì khu nghỉ dưỡng vẫn khô.
Hạ đặt cái muỗng xuống.
– Rứa nước đi đâu?
– Dạ?
– Nước không lên chỗ anh thì nước đi đâu?
Vĩ nhìn cô, chưa hiểu câu hỏi. Rồi anh hiểu, và anh không trả lời ngay. Đúng lúc đó điện thoại của cả hai cùng rung lên một lượt, rồi điện thoại của mấy bàn bên cạnh cũng rung. Tin nhắn cảnh báo: hồ thủy điện phía thượng nguồn tăng lưu lượng xả, mực nước hạ du dâng nhanh, người dân vùng trũng ven sông chủ động di dời.
Hạ đứng bật dậy.
Xe ôm chở cô về tới đầu cầu thì không đi được nữa. Con đường đất dẫn vào thôn Bàu Lăng đã chìm dưới một dòng nước nâu chảy xiết, chỉ còn thấy ngọn mấy cây cọc tiêu. Mưa đổ như trút. Ông xe ôm quay lại, hét qua tiếng mưa: cô ơi, không vô được đâu, cô qua nhà người quen trên phố ngủ đi.
Hạ cởi đôi giày, xách trên tay. Cô nhìn về phía thôn. Tối om. Điện đã cúp. Chỉ có vài đốm đèn pin lóe lên lóe xuống giữa màn mưa, rất xa.
Một đốm trong đó đang di chuyển trên mặt nước, đều đặn, thẳng hướng về phía bến. Đèn đội đầu. Cô biết cái đèn đó.
Cô xắn váy, bước xuống nước.
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe