AI Truyện
Lon hạt giống trên trính nhà ngoại

💞 Ngôn tình

Hai thùng nước và một ghe rong

Lon hạt giống trên trính nhà ngoại · Chương 3/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Hai thùng nước và một ghe rong

Cái đòn gánh đè lên vai phải, Hạ đi được mười bước thì nước trong hai thùng đã sóng sánh đổ ra gần nửa.

– Đừng đi như đi chợ, – Nghiễm nói sau lưng cô. – Đi theo cái nhún của đòn gánh. Nó nhún xuống thì mình nhún xuống.

– Nó nhún lung tung.

– Tại cô bước lung tung.

Năm giờ sáng, trời vừa hửng, sương còn đọng trên lá rau thành từng hạt tròn. Hạ đã gánh tới chuyến thứ bảy. Vai cô đỏ rát, lòng bàn tay phồng lên chỗ nắm sợi dây thừng. Cô đứng bếp mười hai năm, bê nồi nước dùng ba chục lít không hề run tay, vậy mà đôi thùng tưới mười lăm lít mỗi bên này làm cô thở như kéo bễ.

Nghiễm gánh song song ở luống bên cạnh. Anh đi nhẹ tênh. Đôi thùng của anh nhịp lên xuống đều đặn, vòi sen ở đáy thùng rưới xuống luống rau một làn mưa mịn. Tới cuối luống, anh xoay người một cái, đòn gánh đổi vai, đi ngược lại, nước không rớt một giọt ra ngoài.

– Anh tập cái này bao lâu?

– Từ năm tám tuổi.

– Rứa thì tui còn hai mươi sáu năm nữa.

Lần đầu tiên từ hôm cô về, Nghiễm cười. Anh quay mặt đi chỗ khác mà cười, nhưng Hạ vẫn thấy khóe miệng anh giật lên.

Gánh xong hai chục chuyến, anh dắt cô ra bến. Chiếc ghe nhỏ của anh buộc dưới gốc khế, đáy ghe để sẵn cái cào tre cán dài và hai cái sọt. Anh chèo ra một khúc sông cạn gần bãi bồi, nơi nước chảy chậm và trong thấy đáy. Dưới nước, rong mọc thành từng đám dài, lay theo dòng.

– Vớt rong này về làm chi?

– Bón rau. – Nghiễm thọc cái cào xuống, xoay một vòng, nhấc lên một búi rong xanh rì, nhỏ nước ròng ròng. – Ủ vô hố, mấy tuần thì hoai, rải xuống luống. Rau trồng bằng rong thì thơm. Bà Út trồng rứa, ông cố bà Út cũng trồng rứa.

– Không bỏ phân?

– Phân chuồng ít thôi. Thuốc thì không.

Hạ cầm cái cào thử. Búi rong đầu tiên cô vớt lên dính một con cua nhỏ, nó giơ hai càng lên trời đòi đánh nhau. Cô hét lên, suýt quăng luôn cái cào xuống sông. Nghiễm nhặt con cua thả lại xuống nước, không nói gì, nhưng vai anh rung rung.

Lúc về tới hố ủ sau vườn, mùi rong cũ đang hoai bốc lên nồng nặc, mùi bùn, mùi tanh, mùi chua chua của dưa muối hỏng. Hạ bịt mũi, lùi lại hai bước. Rồi cô nhớ tới nồi canh của ngoại, tới mùi húng tím cay ngọt chiều hôm trước, và cô buông tay khỏi mũi, cúi xuống đổ sọt rong vào hố.

– Cô đứng bếp nhà hàng, – Nghiễm nói, lần này giọng có vẻ ngạc nhiên thật, – mà không sợ dơ.

– Bếp nhà hàng dơ hơn cái hố này nhiều, – cô nói. – Chỉ là khách không thấy thôi.

Trên đường chèo về, cô ngồi mũi ghe, anh ngồi lái. Nắng đã lên, mặt sông chuyển từ màu sữa sang màu nước chè. Cô hỏi anh học trồng rau ở đâu. Anh nói học trung cấp nông nghiệp ngoài Tam Kỳ, ra trường lên Lâm Đồng làm cho một nông trại lớn hai năm, trồng xà lách trong nhà kính.

– Rứa răng không ở trên đó? Lương chắc cao hơn.

– Cao hơn. – Anh khua mái chèo, ghe lách qua một đám lục bình. – Mà rau trên đó không có mùa. Bốn mùa như một. Trồng ba năm, tui không nhớ năm mô với năm mô.

– Ở đây có mùa?

– Ở đây có mùa nắng, mùa nước. – Anh nhìn lên bờ, chỗ hàng tre. – Mùa nước thì mất trắng. Mất rồi trồng lại. Tui thích rứa.

Hạ định cười, nói anh lạ, ai mà thích mất trắng. Rồi cô nhìn mặt anh, thấy anh không đùa, và cô thôi không cười nữa.

Bảy giờ, anh cắt cho cô một rổ rau: húng quế tía, rau răm, ngò gai, tía tô, mấy cọng hành lá. Anh xếp vào rổ cẩn thận, rau thơm để trên, rau ăn để dưới, như người ta xếp đồ cúng. Hạ ôm rổ rau về, bắc nồi canh.

Chiều đó cô lại bưng tô canh qua bên kia mương.

Ông Bồng húp ba muỗng. Lần này ông không đặt muỗng xuống ngay. Ông ngồi im, nhai chậm một lá húng, mắt nhìn lên giàn mướp.

– Gần rồi, – ông nói.

– Còn thiếu chi nữa ông?

– Thiếu một thứ. – Ông đưa trả cái tô. – Thứ đó tau không nói được. Mi phải tự kiếm.

Hạ đi về, vừa đi vừa cằn nhằn một mình. Ông già này coi bộ khoái làm khó người ta. Vậy mà tối đó, nằm trên bộ ván, cô vẫn nghĩ hoài về chữ "gần rồi".

Cuối tháng Tư, cái quán thành hình mà không ai bàn trước.

Người hướng dẫn hôm trước giữ lời. Thứ Ba tuần sau, anh dẫn tới một đoàn mười một người. Thứ Năm, một đoàn tám người. Rồi một công ty du lịch nhỏ ngoài phố gọi điện, hỏi có nhận đặt cố định ba bữa trưa một tuần không. Hạ nhận.

Chị Mến lo phần bánh tráng: khách coi chị tráng bánh trước, sau đó qua bên này ăn cơm, cuốn thịt luộc bằng chính cái bánh mình vừa coi người ta làm. Thằng Sún bưng nước, phát khăn lạnh, học được đúng ba câu tiếng Anh và nói cả ba câu với mọi người khách, bất kể khách hỏi gì. O Lợi cho mượn bàn ghế nhựa, bán đá, bán nước ngọt, và tranh thủ hỏi khách đủ thứ chuyện bằng thứ tiếng Anh chỉ có o hiểu. Còn Nghiễm, mỗi sáng năm giờ, đứng ở đầu luống chờ cô ra gánh nước.

Cô đặt tên quán là Cơm nhà bà Út. Không có bảng hiệu. Chỉ có cái mâm đồng dưới gốc khế, mấy cái chiếu cói, và mùi khói bếp.

Đêm nào Hạ cũng ngồi tính tiền dưới ánh đèn bóng tròn. Trừ tiền chợ, tiền chia cho chị Mến, tiền mua đá của o Lợi, mỗi tuần cô còn lại hơn ba triệu. Một tháng mười hai, mười ba triệu. Tới rằm tháng Mười là sáu tháng nữa, được bảy, tám chục triệu nếu khách đều. Không đủ thay một căn nhà. Nhưng đủ để cô không phải đụng vô tiền góp. Và đủ để cô ở lại, chờ cái người cứng đầu bên kia mương đổi ý.

Cô tự nhủ đó là lý do cô ở lại.

Cuối tháng, anh Trịnh gọi. Đầu dây bên kia ồn ào tiếng khoan, tiếng búa, tiếng người hét nhau bê đồ.

– Em nghe không? Anh đang ở mặt bằng nè. Thợ đang đập tường. Bếp mình rộng gấp đôi bếp cũ, em vô mà coi, em khóc luôn.

– Dạ, em nghe.

– Đất cát sao rồi? Bán được chưa?

Hạ đứng ở hiên, nhìn ra vườn. Nghiễm đang cúi trên luống tía tô, cái nón lá lật ngửa đặt bên cạnh, đựng đầy hạt giống gì đó anh vừa tuốt.

– Còn vướng chút, anh. Người thuê vườn chưa chịu dọn.

– Thì đưa người ta ít tiền. – Anh Trịnh nói nhanh, gọn, như mọi lần anh chỉ cô lọc xương cá. – Ở quê, mười triệu là người ta mừng rồi. Em đừng có mềm. Anh dạy em sao? Vô bếp là không được mềm.

– Dạ.

– Rằm tháng Mười nghe em. Anh giữ suất cho em đó.

Anh cúp máy. Tiếng khoan bê tông còn rung trong tai cô một lúc, rồi tắt, nhường chỗ cho tiếng gà mái cục tác bên nhà chị Mến và tiếng nước rơi lộp độp từ vòi sen thùng tưới ngoài vườn. Hạ nhìn cái bóng lưng cúi trên luống tía tô. Mười triệu. Cô chưa từng dám nói ra một con số nào với anh, vì cô biết trước cái lắc đầu, và biết luôn là sau cái lắc đầu đó, sáng hôm sau hai thùng nước vẫn đầy.

Giữa tháng Năm, Vĩ trở lại.

Lần này anh tới một mình, không có Tín. Anh mặc áo thun polo, đội mũ lưỡi trai, đi chiếc xe máy mượn của ai đó, trên yên sau buộc một hộp bánh in mua ở phố. Anh tới đúng giờ trưa, ngồi xuống chiếu với khách, ăn hết một mâm.

– Chị nấu ngon thật, – anh nói, lau miệng. – Em nói thật chứ không phải nói để mua đất đâu.

– Anh nói để mua đất cũng được, – Hạ nói. – Tui quen rồi.

Vĩ bật cười. Anh có kiểu cười làm người khác thấy mình vừa nói một câu thông minh.

– Em có một đề nghị. Khu nghỉ dưỡng làm xong, bên em cần bếp trưởng cho nhà hàng. Lương em nói chị chắc chị không chê. Chị không phải đi đâu xa, vẫn ở đây, ngay trên mảnh đất của ngoại chị. Chị nghĩ thử xem.

Hạ ngồi im. Cô nghĩ tới cái bếp mới ngay chỗ bếp củi này, bếp ga sáu họng, tủ mát inox, máy hút khói chạy ù ù. Nghĩ tới khách nước ngoài ngồi bên hồ bơi gọi món cá bống kho tiêu theo thực đơn in giấy dày. Nghĩ tới cái lon sữa bò trên trính, không còn trính nào để treo.

– Tui có hẹn với người ta ở Sài Gòn rồi.

– Thì chị cứ nghĩ. – Vĩ đứng dậy, phủi quần. – Em không vội. – Rồi anh nói thêm, giọng thấp hơn: – Mà không phải chuyện công việc đâu, em cũng muốn được ăn cơm chị nấu dài dài.

Câu đó nói ra nhẹ tênh, nhưng Hạ đã đứng bếp đủ lâu để biết câu nào là món chính, câu nào là rau ăn kèm. Cô đứng dậy, dọn mâm, không trả lời. Mặt cô hơi nóng. Lâu lắm rồi mới có người nói với cô một câu như vậy, mà không phải đang say.

Lúc tiễn Vĩ ra ngõ, cô thấy Nghiễm đứng sau hàng rào bông bụp, tay xách sọt rau giao buổi chiều. Không biết anh đứng đó từ lúc nào. Vĩ gật đầu chào anh. Nghiễm gật lại, rồi đi thẳng vô bếp, đặt sọt rau lên bàn, quay ra.

Tới bờ giếng, anh dừng lại.

– Hắn nói tháo nhà bán gỗ, – anh nói, không quay đầu. – Cô biết rứa mà vẫn bán?

– Nhà là nhà của tui.

– Ừ. – Anh gật. – Không phải của tui.

Anh đi. Lần này không lội qua mương, mà đi vòng đường lớn, xa hơn gấp ba.

Đêm đó Hạ không ngủ được. Gió nồm từ sông thổi vào, lay cái lon sữa bò trên trính khe khẽ. Cô nằm nghĩ mãi về chữ "không phải của tui", nói bằng cái giọng mà cô không đoán được là giận hay là buồn.

Năm giờ sáng hôm sau, cô ra vườn như mọi ngày.

Đầu luống không có ai. Đôi thùng tưới của cô vẫn dựng ở chỗ cũ, đã đổ đầy nước. Trên bậc cửa bếp có một rổ rau cắt sẵn, xếp gọn, rau thơm trên, rau ăn dưới. Đặt lên trên cùng, giữa mấy lá húng tím, là chùm chìa khóa nhà ngoại, cái móc khóa hình con cá bằng nhựa đỏ mà cô đã làm mất hồi lớp Năm.

— Hết chương 3 —

Mục lục Lon hạt giống trên trính nhà ngoại

  1. 1Người lạ trong bếp ngoại10 phút đọc
  2. 2Hợp đồng nói miệng10 phút đọc
  3. 3Hai thùng nước và một ghe rong10 phút đọc
  4. 4Giỗ tiền hiền tháng Sáu9 phút đọc
  5. 5Đua ghe mùng Hai tháng Chín9 phút đọc
  6. 6Lời nói dối dưới gốc khế9 phút đọc
  7. 7Mưa đầu mùa9 phút đọc
  8. 8Đêm nước lên tới trính9 phút đọc
  9. 9Bùn9 phút đọc
  10. 10Ngày ký9 phút đọc
  11. 11Gieo trên phù sa9 phút đọc

Về truyện này

Lon hạt giống trên trính nhà ngoại là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →