AI Truyện
Lon hạt giống trên trính nhà ngoại

💞 Ngôn tình

Giỗ tiền hiền tháng Sáu

Lon hạt giống trên trính nhà ngoại · Chương 4/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Giỗ tiền hiền tháng Sáu

– Con Đọt! Chừng nào đám cưới mời bà nghe con!

Bà cụ răng đen ngồi đầu chiếu nói to tới mức cả gian bếp đình quay lại nhìn. Hạ đang cầm dao chặt gà, tay khựng lại giữa chừng.

– Đám cưới ai bà?

– Thì mi với cái cậu đi xe hơi đó! – Bà cụ cười móm mém. – Con Lợi nói rồi, nó nói cậu đó ngày nào cũng ghé, nói chuyện ngọt xớt.

Ba bà cụ khác cùng gật gù. Ở góc bếp, o Lợi đang lặt rau, cúi gằm mặt xuống rổ, hai vai run run vì nhịn cười. Hạ chặt cái nhát dao xuống thớt mạnh tới mức cái đùi gà văng ra mép thớt.

– Anh đó tới mua đất, bà ơi. Mua đất chứ không mua dâu.

– Thì mua đất có kèm dâu cũng được mà! – bà cụ nói, rồi cả gian bếp cười ầm lên.

Mùng Mười tháng Sáu âm lịch là giỗ tiền hiền làng Bàu Lăng, ngày cả làng nhớ ơn mấy ông bà đầu tiên tới khai đất bên sông. Theo lệ, mỗi xóm làm một mâm cỗ đưa lên đình. Mọi năm, mâm của xóm Bến do ngoại đứng bếp. Năm nay, ông trưởng thôn tới tận nhà, đứng ngoài hiên vân vê cái mũ tai bèo, ngập ngừng nói xóm không còn ai nấu được như bà Út, thôi thì nhờ con cháu bà Út làm giùm.

Hạ nhận lời trước khi kịp nghĩ. Rồi cô nhận ra mình không biết mâm cỗ giỗ tiền hiền gồm những món gì.

Cô hỏi o Lợi. O Lợi kể ra mười hai món, rồi sửa lại thành mười một, rồi cãi với chị Mến là mười ba. Cô hỏi ông Bồng. Ông Bồng nghĩ một hồi lâu, chỉ nói đúng một câu: "Bà Út năm nào cũng có đĩa gỏi cá mè, mà năm nào cũng làm thiếu ớt, ổng chê."

– Ổng nào ông?

– Ổng tiền hiền chứ ổng nào.

Nên giờ cô đứng trong gian bếp sau đình, giữa khói củi và tiếng mười mấy bà cụ nói cười, làm một mâm cỗ mà nửa số món cô chưa từng nấu. Gà luộc lá chanh. Bánh tét. Ram cuốn tôm đất. Canh bóng thả hành. Gỏi cá mè, ít ớt.

Nghiễm được phân công gánh nước và bổ củi. Từ hôm trả chìa khóa, anh vẫn đổ đầy hai thùng nước cho cô mỗi sáng, vẫn để rổ rau trên bậc cửa, nhưng anh tưới ở đầu ruộng bên kia, cách cô nửa sào đất. Hai người nói với nhau đúng ba câu một ngày: chào, rau đây, cảm ơn. Trong bếp đình, anh đặt bó củi xuống cạnh chân cô, đi ra, đi vào, đặt thùng nước xuống, đi ra. Cả bếp đình nhìn hai người, rồi nhìn nhau.

– Thằng Nghiễm hôm ni ít nói dữ hỉ, – o Lợi nói to, không nhìn ai.

– Bữa mô mà nó chẳng ít nói, – bà cụ răng đen đáp.

– Mà ít nói kiểu khác. Kiểu này là ít nói có chuyện.

Hạ đổ dầu vào chảo. Tiếng mỡ nổ lách tách che bớt tiếng cười.

Cô làm tới món ram thì gặp chuyện. Bánh tráng mỏng cuốn ram của chị Mến bị ướt, cô cuốn tới cái thứ mười thì rách. Còn bốn mươi cái nữa. Chị Mến chạy về nhà tráng thêm bánh, ít nhất một tiếng. Giờ cúng là mười giờ, còn bốn mươi phút.

Hạ đứng nhìn rổ nhân ram, đầu óc chạy như ở bếp nhà hàng những đêm thứ Bảy. Nghiễm đặt thùng nước xuống, nhìn rổ bánh rách, rồi đi ra ngoài không nói một câu. Năm phút sau anh quay lại, ôm một chồng lá chuối non vừa cắt, gân lá còn rỉ nhựa.

– Bà Út năm mô thiếu bánh thì gói ram bằng lá, – anh nói. – Hấp lên. Ông tiền hiền không chê.

Hạ nhìn chồng lá. Cô chưa từng thấy ram gói lá. Cô cũng không biết anh nói thật hay bịa. Nhưng còn ba mươi lăm phút, và cô không có lựa chọn nào khác.

Hai người ngồi xuống hai bên cái mẹt. Anh lau lá, hơ lá qua lửa cho mềm, xé thành từng miếng vuông. Cô múc nhân, gói, buộc bằng sợi lạt anh chẻ sẵn. Tay anh to mà lau lá rất khéo, không làm rách một miếng nào. Hai người làm nhanh dần, không ai nói gì, chỉ có tiếng lá sột soạt và tiếng nước sôi trong xửng hấp. Hạ nhận ra mình đã bắt nhịp được với tay anh, như mấy buổi sáng đã bắt được nhịp đòn gánh. Anh đưa lá, cô gói. Anh lấy lạt, cô buộc. Không cần nhìn.

Mười giờ kém năm, mâm cỗ xóm Bến được bưng lên đình, có một đĩa ram gói lá thơm mùi chuối non, không giống mâm của xóm nào.

Ông từ giữ đình nhìn đĩa ram, gật gù, quay sang ông trưởng thôn:

– Năm chín chín bà Út cũng gói ram lá. Năm đó nước ngập lò bánh tráng, cả làng không ai còn bánh.

Hạ nghe câu đó từ gian bên. Năm chín chín. Cô ghi nhớ con số đó.

Lúc dọn mâm xuống, cô hỏi bà cụ răng đen. Bà cụ đang ngồi nhai trầu ở bậc thềm đình, chân duỗi thẳng, hai bàn chân đen bóng.

– Năm chín chín hả con? – Bà ngừng nhai, nhìn ra sông. – Năm đó nước lên tới nóc đình. Tau ngồi trên gác nhà bà Út ba ngày ba đêm, ôm…

– Bà Tư ơi! – o Lợi gọi từ trong bếp. – Bà Tư lại coi giùm con nồi chè, con không biết nêm!

Bà cụ chống tay đứng dậy, phủi quần, đi vô. Câu chuyện bỏ lửng ở chữ "ôm", như sợi lạt buộc dở. Hạ đứng một mình ở bậc thềm. Cô nhớ lời ngoại hồi cô còn nhỏ, cái gác đó là để dành, không phải để chơi. Để dành cái gì, ngoại chưa bao giờ nói.

Cô định đi theo vô bếp hỏi tiếp thì thằng Sún chạy tới níu tay, kéo cô ra sân coi người ta dựng chòi. Thằng nhỏ hét to tới mức Hạ quên luôn câu định hỏi, chỉ nhớ có một chữ, ôm. Ôm cái gì, hay ôm ai.

Chiều, sau khi cúng xong và cả làng ăn cỗ, sân đình dựng chín cái chòi tre cho trò bài chòi. Bài chòi là trò của người Quảng mà Hạ nhớ từ hồi nhỏ: chín cái chòi xếp thành hình chữ U, mỗi chòi một hai người ngồi, cầm ba lá bài gỗ. Ở giữa sân, anh hiệu rút bài từ ống tre, rồi hát một câu hò có giấu tên lá bài trong đó. Ai có đủ ba lá trùng thì gõ mõ, thắng một lá cờ nhỏ.

Năm nay anh hiệu là ông Bồng.

Trước khi bắt đầu, người ta đánh một hồi trống chầu, tiếng trống dội vào mấy cây đa sau đình làm một bầy chim sẻ bay vụt lên. Đám con nít chen nhau ngồi dưới chân chòi. Mấy ông già bưng ấm trà ra ngồi hàng hiên, cãi nhau xem năm nay ai hò hay hơn năm ngoái. Nghiễm đứng tít ở góc sân, dựa lưng vào gốc cây đa, khoanh tay. Hạ thấy anh nhìn ông nội mình, cái nhìn vừa lo vừa tự hào, như người ta nhìn đứa con nhỏ lên sân khấu.

Hạ không ngờ ông già ít nói ngày thường lại hát được như vậy. Ông đứng giữa sân, áo dài the đen cũ, khăn đóng méo, giọng khàn mà vang, ngân lên những câu hò làm cả sân cười nghiêng ngả. Hạ ngồi trong chòi số bảy với thằng Sún, cầm ba lá bài: Nhứt Trò, Tứ Cẳng, Bát Bồng. Thằng Sún hồi hộp tới mức cầm ngược bài.

Ông Bồng rút một thanh tre, nheo mắt nhìn, rồi cất giọng:

– Ai về bên bến Bàu Lăng, có cái nhà rường gỗ mít, có cái gác ván cao cao… nước lên mà gác chẳng sao… là con Bát Bồng!

Thằng Sún gõ mõ lia lịa. Cả sân vỗ tay. Hạ ngồi im, nghe câu hò còn ngân vang dưới mái đình, cái gác ván cao cao, nước lên mà gác chẳng sao. Ông Bồng không nhìn về chòi của cô. Ông rút thanh tre tiếp theo, hò tiếp, như thể câu vừa rồi chỉ là một câu hò bất kỳ.

Tối, làng giải tán. Đàn ông ngồi lại uống rượu ở sân đình. Hạ dọn dẹp xong, ôm chồng mâm đồng đi về theo con đường bờ sông. Trăng mồng mười đã lên, soi mặt sông sáng bạc.

Tới gốc khế ở bến, cô thấy hai cái bóng. Nghiễm đang dìu ông Bồng. Ông già đi xiêu vẹo, một tay vịn vai cháu, một tay vẫn cầm cái khăn đóng.

– Ông say rồi hả?

– Hai ly, – Nghiễm nói. – Ông uống được có hai ly.

– Ba ly! – ông Bồng cãi, giọng líu lại. – Ba ly. Tau nhớ mà. Con Đọt hả? Đọt lại đây.

Hạ đặt chồng mâm xuống bậc đá. Ông Bồng thả vai Nghiễm ra, chộp lấy cổ tay cô. Bàn tay ông khô và nóng, gân guốc như rễ cây.

– Mi nấu cỗ được, – ông nói. – Ram lá. Được. Bà Út mà thấy là bà…

Ông dừng lại, nấc một cái.

– Ông ơi, về ngủ, – Nghiễm nói.

– Mi im! – Ông Bồng quát cháu, rồi quay lại nhìn Hạ, mắt ông đục mà sáng. – Đọt nghe tau nói nè. Bà Út có cho ai thuê vườn mô. Bà Út…

– Ông! – Nghiễm nói, lần này to.

Ông Bồng giật mình. Ông nhìn cháu, rồi nhìn Hạ, rồi nhìn xuống bàn tay mình đang nắm cổ tay cô. Ông buông ra, lắc đầu, lẩm bẩm câu gì đó không ai nghe rõ.

Nghiễm cúi xuống, xốc ông lên lưng, cõng đi. Ông Bồng nằm trên lưng cháu, một tay vẫn quơ quơ cái khăn đóng, bắt đầu hò lại câu hò Bát Bồng, giọng nhỏ dần.

Hạ đứng ở bến nhìn theo hai cái bóng đi qua bờ mương, khuất sau giàn mướp. Tiếng hò còn vẳng lại một đoạn, rồi tắt.

Bà Út có cho ai thuê vườn mô.

Cô ôm chồng mâm đồng lên, nặng trịch, lạnh ngắt dưới trăng. Đi được mấy bước, cô dừng lại, quay đầu nhìn về phía nhà mái tôn bên kia mương. Đèn bên đó vừa bật. Một lúc sau, có người đi ra hiên, đứng đó, cũng nhìn về phía bên này.

Hai người đứng hai bên con mương, cách nhau nửa sào rau, không ai lên tiếng.

— Hết chương 4 —

Mục lục Lon hạt giống trên trính nhà ngoại

  1. 1Người lạ trong bếp ngoại10 phút đọc
  2. 2Hợp đồng nói miệng10 phút đọc
  3. 3Hai thùng nước và một ghe rong10 phút đọc
  4. 4Giỗ tiền hiền tháng Sáu9 phút đọc
  5. 5Đua ghe mùng Hai tháng Chín9 phút đọc
  6. 6Lời nói dối dưới gốc khế9 phút đọc
  7. 7Mưa đầu mùa9 phút đọc
  8. 8Đêm nước lên tới trính9 phút đọc
  9. 9Bùn9 phút đọc
  10. 10Ngày ký9 phút đọc
  11. 11Gieo trên phù sa9 phút đọc

Về truyện này

Lon hạt giống trên trính nhà ngoại là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →