Chương 5: Đua ghe mùng Hai tháng Chín
– Một! Hai! Một! Hai! Bên trái chậm rồi! Thằng Tèo mi chèo hay mi khuấy chè?
Tiếng ông Bồng gào từ mũi ghe, vang khắp khúc sông lúc chạng vạng. Mười hai người đàn ông ngồi hai hàng trong chiếc ghe dài, mái chèo đồng loạt bổ xuống nước, kéo về, nhấc lên, nước bắn tung trắng xóa. Nghiễm ngồi hàng đầu, cầm nhịp, lưng trần bóng mồ hôi. Ông Bồng đứng sau lưng anh, gõ cái dùi vào thành ghe theo nhịp, gõ mạnh tới mức Hạ đứng trên bờ cũng nghe dội vào ngực.
Cuối tháng Tám, cả xóm Bến sống theo tiếng dùi gõ đó. Mùng Hai tháng Chín năm nào cũng có hội đua ghe trên sông, ghe các làng ven sông tụ về, người ta đứng chật hai bờ coi. Xóm Bến ba năm liền về nhì, thua một làng phía thượng nguồn. Năm nay ông Bồng thề thắng.
Hạ được giao nấu ăn cho đội. Không ai giao, thật ra. Chỉ là một chiều cô nấu dư nồi chè đậu xanh, bưng ra bến cho mấy người vừa tập về, và từ hôm đó chiều nào đội ghe cũng ghé gốc khế, ngồi xổm thành hàng, chờ.
Cô nấu đủ thứ. Chè đậu xanh bỏ đá. Cơm nắm muối mè. Bánh ít lá gai. Có hôm cháo vịt, có hôm cá nục kho rim ăn với bánh tráng nướng. Mười hai người đàn ông đen nhẻm ăn như tằm ăn rỗi, vừa ăn vừa cãi nhau về nhịp chèo. Ông Bồng ăn ít nhất, ngồi tách ra trên một cái rễ khế, hút ống điếu, mắt nhìn sông. Còn Nghiễm thì luôn ăn sau cùng, cầm chén cơm đứng ở mép nước.
Từ đêm giỗ tiền hiền, Hạ đã hỏi Nghiễm đúng một lần.
– Bữa đó ông nói bà Út không cho ai thuê vườn. Là răng?
Anh đang cột ghe. Tay anh dừng lại một giây trên nút dây.
– Ông say, – anh nói. – Ông say thì nói đủ thứ. Có lần ông say, ông nói ông từng đánh nhau với cọp.
– Ông đánh nhau với cọp thiệt hả?
– Với con heo rừng. – Anh siết nút dây. – Mà con heo thắng.
Hạ cười. Cô biết câu trả lời đó không phải câu trả lời. Nhưng chiều đó trời đẹp, nồi chè vừa ngọt, và cô không muốn biết thêm. Sau này nghĩ lại, cô hiểu đó là lần đầu tiên trong đời cô chọn không hỏi, vì sợ câu trả lời làm mất một cái gì đó cô chưa kịp gọi tên.
Giữa tháng Tám, ông Bồng và Nghiễm bắt đầu thay ván gác.
Hai ông cháu chở về một ghe ván gỗ mít đã xẻ sẵn, phơi trên sân nhà ông Bồng cả tháng cho khô. Sáng nào không có khách, họ leo lên gác nhà ngoại, cạy từng tấm ván cũ ra, đo, cưa, bào, rồi đóng tấm mới vào. Tiếng búa gõ cộc cộc trên đầu Hạ suốt buổi.
– Ông ơi, – Hạ đứng dưới nói vọng lên, – nhà con tính bán rồi. Ông thay chi cho tốn công.
– Bán thì bán. – Ông Bồng thò đầu ra khỏi mép gác, mạt cưa dính đầy râu. – Ván thì thay.
– Người mua người ta tháo nhà mà ông.
– Thì người ta tháo ván mới. – Ông rút đầu vô. Cộc, cộc. – Tháo ván mới thì bán được giá hơn.
Hạ không cãi lại được câu đó. Cô đi pha một ấm trà, để lên mép gác, rồi đi chợ.
Những buổi sáng như vậy, Nghiễm nói nhiều hơn một chút. Có lẽ vì anh ở trên cao, cô ở dưới thấp, hai người không phải nhìn mặt nhau. Anh kể ba anh bỏ vô Sài Gòn làm thợ hồi anh mười tuổi, gửi tiền về được hai năm, rồi thôi. Sau này mới biết ông có vợ khác trong đó. Má anh bệnh mất năm anh mười lăm. Từ đó anh ở với ông nội.
– Anh có vô kiếm ba anh không?
– Có. Năm hai mươi. – Cộc, cộc. – Ổng mở tiệm sửa xe ở Thủ Đức. Ổng mời tui ăn cơm, gắp cho tui miếng thịt, hỏi tui học hành sao. Rồi ổng nói ở đây sống được, ở quê làm chi mà khổ. Tui ăn hết chén cơm rồi về.
– Rồi sao?
– Rồi hết. – Cộc. – Người ta đi rồi thì đi. Mình ở thì ở.
Hạ đứng dưới gác, tay cầm cái rổ đi chợ, nghe câu đó rơi xuống từ trên cao. Người ta đi rồi thì đi. Cô hiểu ra vì sao hôm đầu tiên anh nhìn cái vali của cô ở đầu ngõ lâu như vậy.
Cô cũng hỏi về vết sẹo trên lông mày anh. Anh chỉ nói năm bảy tuổi, té. Té ở đâu, té vì sao, anh không kể, cô cũng không hỏi tiếp. Mùa hè năm đó cô học được rằng ở cái xóm này, có những câu trả lời phải chờ tới mùa mới chín, hỏi sớm thì chỉ hái được trái xanh.
Mùng Hai tháng Chín, hai bờ sông đông như chợ Tết.
Người ta dựng lều bạt, giăng cờ, bán nước mía, bánh tráng nướng, kem que. Loa phóng thanh đặt trên mái đình phát nhạc từ sáng sớm. Chín chiếc ghe của chín làng xếp hàng ngang ở vạch xuất phát, mỗi chiếc sơn một màu. Ghe xóm Bến màu xanh lá, mũi ghe vẽ hai con mắt đỏ. Đội chèo mặc áo xanh giống nhau, áo do Hạ với chị Mến đi chợ phố mua, cò kè từng đồng.
Hạ đứng trên bậc đá ở bến, kẹp giữa o Lợi và chị Mến. Thằng Sún ngồi trên vai một ông chú, hai tay cầm hai cái lon bia rỗng gõ vào nhau loảng xoảng.
Tiếng súng hiệu nổ. Chín chiếc ghe lao đi.
Ghe xóm Bến xuất phát chậm nửa thân, rồi rút ngắn dần. Hạ nghe rõ tiếng dùi của ông Bồng giữa tiếng hò reo, cộc, cộc, cộc, đều như tim đập. Tới khúc quanh thứ nhất, ghe xanh đã ngang ghe vàng của làng thượng nguồn. Tới khúc quanh thứ hai, ghe xanh vượt lên nửa mũi. Hai bờ gào lên. O Lợi đấm vào vai Hạ thình thịch, la khản cổ.
Rồi chuyện xảy ra ở khúc quanh thứ ba, chỗ dòng nước xoáy dưới gốc gạo.
Một chiếc ghe sơn đỏ của xóm Giữa phía sau, chèo quá đà, ôm cua gấp, lật nghiêng. Mười hai người rơi xuống nước. Trong đó có một thằng nhỏ chừng mười bốn tuổi, ngồi cuối ghe để giữ lái, không biết bơi giỏi. Hạ thấy cái đầu nhỏ ngoi lên, chìm xuống, ngoi lên giữa vùng nước xoáy.
Ghe xanh đang dẫn đầu. Còn hai trăm mét nữa là tới đích.
Nghiễm đứng dậy giữa ghe. Hạ thấy anh quay lại nói gì đó với ông Bồng. Ông Bồng gõ dùi một tiếng dài, rồi ngừng. Cả đội chèo ngừng theo. Chiếc ghe xanh chao đi, quay mũi. Nghiễm nhảy xuống nước trước khi ghe quay xong.
Ghe vàng của làng thượng nguồn lướt qua, về đích. Cả hai bờ sông im lặng mất mấy giây, rồi vỡ ra thành tiếng la ó, tiếng vỗ tay, tiếng ai đó khóc. Nghiễm lôi được thằng nhỏ lên, đẩy nó lên mạn ghe xanh. Mấy người khác kéo những người còn lại. Không ai bị gì.
Xóm Bến về chót năm đó. Chót bét, sau cả chiếc ghe đỏ bị lật đã kịp dựng lại và chèo về.
Tối đó, ông trưởng thôn xóm thượng nguồn mang sang hai két bia và một con heo quay, nói là làng ông không dám nhận giải năm nay. Ông Bồng cầm cái dùi gõ lên mâm, nói làng ông nhận đi, đua là đua, cứu là cứu, nhập lại một chỗ là hỏng cả hai. Hai ông già cãi nhau tới khuya, rồi ôm nhau uống rượu.
Khuya, Hạ dọn dẹp xong ra bến rửa nồi. Trăng đã lặn, chỉ còn sao. Nghiễm ngồi trên mũi ghe xanh buộc dưới gốc khế, tóc còn ướt, cánh tay trái có một vết xước dài do va vào gốc gạo.
Cô ngồi xuống bậc đá, bắt đầu cọ nồi bằng nắm xơ mướp. Anh không nói gì. Cô cũng không. Mặt sông đen thẫm, có mấy đốm sáng của đèn câu xa xa trôi chầm chậm.
– Anh có tiếc không? – cuối cùng cô hỏi.
– Tiếc chi?
– Giải nhất. Ba năm về nhì.
Anh nghĩ một lúc.
– Có. – Anh nói thật thà tới mức cô bật cười. – Tiếc muốn chết. Mà thằng nhỏ đó con o Hai bán bánh bèo. O Hai có mình nó.
Hạ đặt cái nồi xuống. Cô lội xuống một bậc đá, nước ngập tới bắp chân, mát lạnh. Cô cầm lấy cánh tay trái của anh, nghiêng về phía ánh đèn từ nhà o Lợi hắt ra, xem vết xước.
– Phải sát trùng. Nước sông dơ lắm.
– Không sao.
– Tui là bếp. – Cô nói. – Tui biết vết đứt nào không sao, vết nào có sao.
Anh không rút tay lại. Cô ngẩng lên. Mặt anh gần hơn cô tưởng. Gần tới mức cô thấy rõ vết sẹo trên lông mày, thấy giọt nước sông còn đọng ở chân tóc anh, thấy anh nhìn cô bằng cái nhìn chậm, đếm, như hôm đầu tiên giữa hai luống rau. Chỉ là lần này anh không đếm tiền, không đếm ngày. Hạ không biết anh đếm cái gì.
– Cô ở lại hết mùa nước đi, – anh nói, rất nhỏ.
– Rồi răng?
– Rồi… – Anh ngừng. – Rồi coi.
Cô không nhớ ai nghiêng người trước. Chỉ nhớ môi anh mặn mùi nước sông, và tay anh, cái bàn tay to cầm đòn gánh, đặt lên lưng cô nhẹ như đặt một rổ rau mới cắt.
Rồi một luồng đèn pin quét ngang mặt sông, dừng lại trên mũi ghe.
– Ai đó? – giọng o Lợi, lanh lảnh. – Ai ở dưới bến khuya rứa?
Hai người buông nhau ra. Nghiễm nhảy lên bờ, mất hút vào bóng tre. Hạ đứng giữa nước, tay vẫn còn cầm nắm xơ mướp, mặt đỏ rực dưới ánh đèn pin.
– Con, o. Con rửa nồi.
Đèn pin lia qua lia lại một chút, rồi tắt. Có tiếng o Lợi tặc lưỡi, tiếng dép đi xa dần.
Sáng hôm sau, lúc Hạ đang bày mâm cho đoàn khách đầu tiên, o Lợi đi thẳng vô sân, không chào, không cười, kéo cô ra sau bếp, chỗ bờ giếng.
– Đọt, – o nói, giọng khác hẳn mọi ngày. – Tau có chuyện phải nói với mi. Tau giữ trong bụng lâu rồi. Mà tối qua tau thấy rồi, tau không giữ được nữa.
— Hết chương 5 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình