Chương 1: Câu đố tháng Mười Một
– Có miệng mà không có răng, có lưỡi mà không biết nếm, cả đời chỉ nói một câu, ai đánh nó thì nó nói hộ người ấy. Là cái gì?
Ông Khoáng đố tôi câu ấy lúc bốn giờ mười chiều thứ Năm. Lúc ấy tôi đang ngồi xổm trước hộp đồng hồ nước ở chiếu nghỉ tầng bốn nhà B7, một tay cầm đèn pin, một tay cầm điện thoại chụp mặt số.
Tôi tên Hoè, Phùng Thị Hoè, hai mươi bảy tuổi, nhân viên ghi chỉ số nước. Nghề của tôi là đi khắp các khu tập thể, mở từng cái hộp tôn gỉ, lau lớp bụi trên mặt kính, đọc dãy số đen với mấy cái kim đỏ, chụp ảnh gửi về công ty. Công ty bắt chụp ảnh từ năm ngoái, sau mấy vụ khách kiện ghi sai. Ảnh nào cũng có giờ phút trên điện thoại, đố ai cãi.
Khu tập thể Ao Rau là tuyến cuối cùng của tôi còn đọc bằng mắt. Các tuyến khác công ty đã thay đồng hồ đọc từ xa, số nhảy thẳng về máy chủ, không cần người leo cầu thang. Tháng sau đến lượt Ao Rau. Anh Cự tổ trưởng của tôi bảo, sau đợt này thì Hoè chuyển sang ngồi văn phòng trực điện thoại khiếu nại. Tôi chưa biết nên mừng hay buồn.
– Cái kẻng. – Tôi đáp, mắt vẫn nhìn mặt số.
– Kẻng không có lưỡi. – Ông Khoáng cười khà khà. – Kẻng là thanh sắt treo lên, lấy thanh sắt khác mà gõ.
– Thế cái mõ?
– Mõ có miệng thật, nhưng mõ cũng không có lưỡi. Cháu nghĩ đi. Tháng sau trả lời. Đúng thì ông mời cháu bát bún ốc đầu ngõ.
Tháng nào ông cũng có một câu. Tháng Mười câu ông đố là "cái gì càng lau càng bẩn", tôi đoán mãi không ra, hôm nay ông mới bảo là cái khăn lau. Tháng Chín là "cái gì đi thì đứng, đứng thì nằm". Tôi nhớ được hết vì tháng nào cũng phải về nhà nghĩ cả tuần.
Ông Khoáng tám mươi tư tuổi, ở một mình phòng 405 đã ba mươi năm. Ông lái tàu điện tuyến Bờ Hồ đi Hà Đông từ năm sáu mươi lăm đến năm chín mươi mốt, năm thành phố dỡ đường ray. Ông bảo cả đời ông không làm nghề gì khác, mà cũng không muốn làm nghề gì khác. Cái chuông đồng ông tháo ra từ toa tàu cuối cùng ông lái, giờ treo ở khung cửa phòng 405, ngay trên đầu người ta. Nó to bằng cái bát ăn cơm, màu vàng xỉn, có cái quả lắc buộc dây gai.
Sáng nào ra khỏi nhà ông cũng giật dây hai cái. Keng keng. Ông bảo đấy là tàu chạy. Tối nào ông cũng lấy một sợi dây chun đỏ, loại người ta buộc mớ rau, quấn quả lắc vào thành chuông cho nó khỏi kêu khi gió lùa. Đúng sáu giờ tối. Ông bảo đấy là giờ tàu về xưởng.
– Ông ơi, bà Xâm bảo dạo này ông gõ chuông to quá. – Tôi nói.
– Bà ấy bảo thế ba mươi năm rồi. – Ông Khoáng đáp.
Cửa phòng 403 bên cạnh mở hé, đúng lúc ấy. Bà Xâm thò đầu ra, tóc quấn lô, mặt bôi một lớp gì trăng trắng.
– Tôi nghe thấy rồi đấy nhé. – Bà nói.
Bà Xâm bảy mươi tám tuổi, nghe được tiếng con muỗi đập cánh ở tầng dưới. Cả nhà B7 không có chuyện gì bà không biết, mà cái gì bà biết thì cả nhà B7 biết theo. Tôi ghi số nhà bà ba năm, năm nào bà cũng hỏi tôi có người yêu chưa.
– Sáng nào cũng thế. – Bà nói với tôi, như kể tội. – Năm giờ đúng, ông ấy keng keng. Rồi cái đôi guốc gỗ của ông ấy lốc cốc lốc cốc xuống cầu thang, xuống đến tầng một tôi vẫn còn nghe. Năm phút sau đến lượt ông Lạp trên năm, dép nhựa lẹp xẹp lẹp xẹp, xuống sau. Hai ông ra hồ tập thể dục. Tôi nằm trên giường đếm, chưa sáng nào lệch. Có hôm tôi chưa dậy, nghe guốc là biết năm giờ.
– Thế thì bà khỏi cần đồng hồ báo thức. – Tôi cười.
– Khỏi cần, cháu ạ. Nhà này người là đồng hồ.
Ông Khoáng cũng cười. Ông mặc bộ quần áo nỉ màu xám, chân đi đôi guốc mộc quai cao su đen, đứng ở cửa nhà ôm cái ấm tích. Cái ấm ấy là thứ thứ hai tôi nhớ ở ông sau cái chuông. Sáng nào ông cũng dậy từ bốn giờ rưỡi, ra vòi nước ở bếp hứng đầy ấm, đun sôi, tráng chén, pha trà, uống một chén rồi mới xuống. Ông bảo cả đời lái tàu, sáng nào cũng phải có chén trà nóng trong bụng mới cầm được tay số.
Tôi đọc xong số nhà ông. Chụp ảnh. Ba khối mỗi tháng, đều như chằn chặn, ba mươi năm.
Rồi tôi sang đồng hồ 406.
Đồng hồ 406 là việc chính của tôi chiều nay. Chị Thục nhà 406 gọi lên công ty khiếu nại, bảo hoá đơn tháng Mười của nhà chị cao gấp đôi mọi tháng, nhà có ba người mà dùng hết mười một khối. Chị đòi kiểm tra đồng hồ. Cả nhà chị đi Hải Phòng ăn cưới em họ từ sáng thứ Tư, sáng thứ Sáu mới về. Tôi gọi cho chị, bảo thế lại hay. Chiều nay em đọc một lần, sáng mai bảy giờ em đọc lại. Nhà vắng không ai dùng, nếu đồng hồ vẫn chạy thì là rò, không thì là đồng hồ hỏng.
Tôi chụp mặt số 406. Rồi theo thói quen, tôi chụp hết cả bốn cái đồng hồ trên chiếu nghỉ tầng bốn, 403, 404, 405, 406, mỗi cái một ảnh, rõ từng kim đỏ. Rồi tôi lên tầng năm chụp nốt bốn cái trên ấy. Anh Cự hay bảo tôi tốn bộ nhớ. Tôi bảo em chụp thừa còn hơn chụp thiếu.
Lúc tôi đang chụp đồng hồ 502, cái đồng hồ niêm chì từ tháng Ba, thì cửa 505 mở.
Ông Lạp đi ra, chân đi dép nhựa, tay cầm một cái cặp hồ sơ nhựa màu xanh. Ông Lạp là tổ trưởng tổ dân phố, sáu mươi sáu tuổi, cán bộ nhà nước nghỉ hưu, tóc chải ngược bóng mượt, nói năng từ tốn. Tháng nào gặp tôi ông cũng hỏi han, khen tôi chăm, có lần còn cho tôi gói ô mai. Tôi quý ông. Cả nhà B7 nể ông. Việc gì trong nhà, từ cái bóng đèn cầu thang đến cái khoá cửa mái, đều qua tay ông.
– Hoè đấy à. Đồng hồ 502 vẫn niêm chứ cháu?
– Vẫn niêm bác ạ. Cháu niêm hồi tháng Ba, sau đám bà Sính. Chị Hằng con gái bà chưa làm thủ tục sang tên.
– Ừ. – Ông gật, rồi đi xuống tầng bốn. Ông dừng trước cửa 405.
– Ông Khoáng. – Ông Lạp nói, giọng vẫn từ tốn, nhưng to hơn một chút, đủ cho cả chiếu nghỉ nghe. – Tôi mang phiếu đồng thuận xuống đây. Cả nhà B7 ký hết rồi, còn mỗi ông. Ông xem lại cho, ký giúp tôi cái. Bên chủ đầu tư người ta chờ.
Tôi ngồi ở bậc cầu thang tầng năm, nhìn qua song sắt xuống. Tôi biết chuyện ấy. Cả khu Ao Rau đang bàn chuyện cải tạo nhà tập thể cũ, phá đi xây chung cư mới. Có một công ty đứng ra lo, có người môi giới đi gom chữ ký. Nhà nào ký thì được hứa căn hộ mới to hơn, có thang máy. Nhà nào không ký thì bị cả khu nhìn như kẻ cản đường.
Ông Khoáng không cầm tờ giấy.
– Tôi không ký. – Ông nói. – Tôi nói với ông ba lần rồi.
– Ông ở một mình, ông già rồi. – Ông Lạp nói. – Lên căn hộ mới có thang máy, ông khỏi leo bốn tầng. Tôi lo cho ông.
– Ông lo cho tôi thì ông về mà lo. – Ông Khoáng nói. – Còn chuyện này, Chủ nhật tuần sau họp tổ dân phố, tôi có chuyện muốn nói trước cả nhà.
– Chuyện gì?
– Chuyện người chết rồi mà vẫn đi ký giấy được. – Ông Khoáng nói, giọng không to, không nhỏ. – Ông về mà xem lại cái danh sách của ông.
Ông Lạp đứng im một lúc. Tôi ở trên tầng năm, không nhìn thấy mặt ông. Tôi chỉ thấy bàn tay cầm cặp hồ sơ của ông siết lại, các khớp ngón trắng bệch.
– Ông già rồi, ông lẫn. – Cuối cùng ông Lạp nói, vẫn nhẹ nhàng. – Thôi được. Chủ nhật tuần sau thì Chủ nhật tuần sau.
Ông quay lên. Đi ngang tôi trên cầu thang, ông cười, hỏi tôi đã ăn chiều chưa, rồi đi thẳng lên tầng năm, mở cửa 505, đóng lại.
Tôi xuống chào ông Khoáng.
– Ông ơi, ông bảo người chết ký giấy là sao ạ?
– Chuyện của người lớn. – Ông Khoáng xua tay. – Cháu về đi, trời sắp mưa. Mà nhớ câu đố đấy. Tháng sau trả lời.
Tôi xuống cầu thang. Đến chiếu nghỉ tầng ba, tôi ngoảnh lại. Ông Khoáng vẫn đứng ở cửa 405, ôm cái ấm tích, nhìn lên phía tầng năm. Cái chuông đồng trên đầu ông lấp loáng dưới ánh đèn hành lang.
Cầu thang chính nhà B7 có đèn. Cầu thang sau thì không. Cầu thang sau là lối hẹp chạy dọc ống đổ rác, từ tầng một lên thẳng cửa mái, ngày xưa để người ta đổ rác và lên sân thượng phơi đồ. Bóng đèn ở đó cháy từ tuần trước, ông Khoáng đã kêu ông Lạp hai lần, chưa ai thay. Ông Khoáng vẫn đi lối ấy ra hồ cho gần. Ông bảo ông lái tàu hơn hai mươi năm, đi trong tối quen rồi.
Tôi về nhà. Trời mưa phùn. Gió mùa về, hoa sữa đầu ngõ thơm đến nhức đầu.
Tối hôm ấy tôi ngồi nghĩ câu đố. Có miệng mà không có răng. Có lưỡi mà không biết nếm. Cả đời chỉ nói một câu. Ai đánh nó thì nó nói hộ người ấy. Tôi viết ra mấy chữ, gạch đi. Cái trống? Trống không có lưỡi. Cái đàn? Đàn nói nhiều câu. Tôi đi ngủ, định sáng mai đọc xong đồng hồ 406 sẽ gõ cửa hỏi ông gợi ý thêm.
Sáng thứ Sáu, sáu giờ năm mươi tám phút, tôi dựng xe máy ở đầu nhà B7.
Có một chiếc xe công an phường đỗ ở khoảng sân trước nhà. Mấy người hàng xóm đứng túm tụm dưới chân cầu thang chính, áo khoác ngoài quần ngủ, nói với nhau bằng cái giọng thì thào của người vừa thấy chuyện không muốn thấy. Không ai trả lời tôi. Có người chỉ tay lên trên.
Tôi leo lên. Tầng một, tầng hai, tầng ba. Đến tầng bốn thì hành lang chật người. Cánh cửa sắt nối hành lang với cầu thang sau mở toang, một sợi dây vàng chăng ngang khung cửa. Một anh công an trẻ đứng chắn, bảo mọi người lùi lại.
Bà Xâm đứng ở cửa 403, tóc vẫn quấn lô, mặt trắng bệch, không còn lớp kem nào.
– Bà ơi, có chuyện gì thế ạ?
Bà Xâm nhìn tôi như không nhận ra. Rồi bà giơ tay chỉ về phía cánh cửa sắt.
Tôi kiễng chân nhìn qua vai anh công an. Cầu thang sau tối om, chỉ có ánh đèn pin của ai đó rọi xuống. Trên chiếu nghỉ giữa tầng bốn và tầng năm, người ta phủ một tấm chiếu cói. Từ dưới mép chiếu thò ra một bàn chân đi tất len xám. Bàn chân phải còn đi một chiếc guốc mộc quai cao su đen.
Chỉ một chiếc.
— Hết chương 1 —
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe