AI Truyện
Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

🔍 Trinh thám

Chiếc guốc sau bể nước

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng · Chương 6/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Chiếc guốc sau bể nước

Chiều thứ Tư, hai giờ, tôi leo cầu thang nhà B7 với cái túi đồ nghề và một tờ phiếu công tác có chữ ký của anh Cự.

Phiếu ghi: kiểm tra bể nước trên mái theo phản ánh áp lực nước yếu của các hộ tầng năm. Anh Cự định đi cùng tôi, sáng ra lại bị gọi đi xử lý một chỗ vỡ ống ở phố khác. Anh bảo Hoè đi một mình cũng được, việc nhẹ, xem cái van phao với cái lưới lọc thôi. Tôi không nói với anh tôi sợ.

Tôi chỉ nói với bà Xâm. Lúc đi ngang cửa 403, tôi gõ cửa, bảo bà cháu lên mái kiểm tra bể nước, nửa tiếng không thấy cháu xuống thì bà gọi cho cháu. Bà nhìn tôi một lúc lâu, lâu hơn mọi khi, rồi gật đầu, không hỏi gì. Lần đầu tiên tôi thấy bà Xâm không hỏi gì.

Ông Lạp đã đứng chờ ở chiếu nghỉ trên cùng của cầu thang sau. Bóng đèn mới thay sáng trắng, rọi rõ từng bậc xi măng mòn vẹt. Tôi đi qua chiếu nghỉ giữa tầng bốn và tầng năm. Người ta đã lau sạch. Không còn gì. Chỉ có một vệt xi măng sáng màu hơn chỗ khác, như vừa được cọ bằng bàn chải.

– Đây, cháu. – Ông Lạp giơ chùm chìa khoá lên. – Cái cửa này cả nhà chỉ có một chìa, bác giữ. Ngày xưa có hai, mất một cái từ thời nào rồi.

Ông tra chìa vào ổ khoá, vặn hai vòng. Cánh cửa sắt kêu ken két.

Mái nhà B7 là một khoảng sân thượng rộng, lát gạch lá nem đã vỡ nhiều chỗ, tường bao xây cao đến ngang bụng. Mấy sợi dây phơi căng từ đầu này sang đầu kia, có hai cái chăn bông ai phơi quên từ hôm nào, cứng đơ lại vì sương. Dọc tường là mấy thùng xốp trồng rau thơm, hành, húng, mùi tàu, của các nhà tầng năm. Ở giữa sân là cái bể nước bằng inox to như một cái xe con nằm ngang, đặt trên bệ gạch, chằng chịt ống nhựa và ống kẽm chạy ra chạy vào. Gió thổi lồng lộng. Từ đây nhìn xuống thấy cả mặt hồ Ao Rau xám bạc, thấy mái ngói lô nhô của cả khu, thấy xa xa mấy toà chung cư mới đang vươn lên trong sương chiều.

– Cái bể này lắp từ năm hai nghìn mười hai. – Ông Lạp nói. – Bơm từ dưới lên, rồi từ đây chảy xuống các nhà. Tầng năm ở sát bể nên áp yếu nhất, cứ chiều là vòi chảy nhỏ như sợi chỉ.

Tôi gật, đi một vòng quanh bể. Ông Lạp đứng ở cửa mái, châm điếu thuốc, nhìn ra hồ.

Van phao ở đầu bể vẫn hoạt động. Tôi trèo lên cái thang sắt nhỏ, mở nắp thăm, rọi đèn pin vào. Nước trong, mực nước ổn. Tôi tụt xuống, đi ra phía sau bể, chỗ ống ra. Chỗ ấy hẹp, bể sát tường, chỉ vừa một người lách vào. Lá bàng khô từ cây bàng dưới sân bay lên, dồn thành một đống dưới chân bệ gạch.

Lưới lọc ở đầu ống ra bị tắc. Tôi nhìn qua cái nắp nhựa trong của bầu lọc là thấy, cặn bùn với gỉ sắt bám kín. Thế là xong việc. Thay lưới lọc là áp lại như cũ.

Tôi định quay ra. Rồi tôi nhìn xuống đống lá bàng khô dưới chân bệ.

Lẫn trong đống lá, giữa khe hở chừng một gang tay giữa chân bệ gạch và tường bao, có một chiếc guốc.

Guốc mộc. Đế gỗ đã ngả màu nâu sẫm vì mồ hôi chân. Quai cao su đen, cái quai cắt từ săm ô tô cũ, đóng bằng mấy cái đinh mũ. Nằm nghiêng, mũi guốc chúi vào khe, như bị đá văng vào đấy rồi kẹt lại. Tôi không cần cầm lên cũng biết đó là chiếc bên trái. Chiếc bên phải tôi đã thấy thò ra dưới mép chiếu cói sáng thứ Sáu.

Tôi đứng im. Tim tôi đập to đến mức tôi sợ ông Lạp ở đầu kia sân thượng nghe thấy.

Đừng cầm vào nó, tôi nghĩ. Đừng động vào. Đừng kêu lên.

Tôi giơ điện thoại lên. Tôi chụp cái bầu lọc tắc cặn. Một cái, hai cái, như mọi lần tôi chụp đồng hồ. Rồi tôi hạ máy xuống một chút, chụp tiếp. Cái bầu lọc ở góc trên, và ở góc dưới, đống lá bàng với chiếc guốc mộc nằm nghiêng trong khe. Rồi tôi chụp thêm một cái nữa, lùi ra một chút, cho thấy cả cái bể inox, bức tường bao, và cái cửa mái phía xa. Tôi chụp như người thợ chụp ảnh báo cáo. Tay tôi run, nhưng ảnh không nhoè.

– Sao rồi cháu?

Ông Lạp đứng ngay sau lưng tôi.

Tôi không nghe tiếng ông đi đến. Gió to quá. Hay dép nhựa của ông đi trên gạch lá nem không có tiếng. Ông đứng cách tôi hai bước, điếu thuốc cháy dở trên tay, nhìn vào cái khe sau bể.

Tôi không biết ông nhìn thấy gì. Tôi không dám nhìn theo mắt ông.

– Lưới lọc tắc bác ạ. – Tôi nói. Giọng tôi bình thường đến mức chính tôi cũng ngạc nhiên. – Cặn bẩn bám kín. Mai cháu cho thợ lên thay, chiều mai là tầng năm có nước khoẻ.

– Thế à. – Ông Lạp nói. – Thế thì tốt quá.

Ông vẫn đứng đó. Tôi lách người ra khỏi khe hẹp, đi về phía cửa mái, không chạy, không ngoảnh lại. Sau lưng tôi, tôi nghe ông Lạp rít một hơi thuốc dài.

Ông khoá cửa mái sau lưng hai chúng tôi. Hai vòng. Ông bỏ chùm chìa khoá vào túi áo gió.

– Cảm ơn cháu nhé. – Ông nói. – Cháu chịu khó quá.

Tôi xuống đến tầng một, ra khỏi nhà B7, đi bộ ra tận đầu ngõ, đến quán nước chè của bà cụ móm mém, mới dám lấy điện thoại ra. Tay tôi run đến mức bấm sai số hai lần.

Trung úy Vịnh nghe máy ở hồi chuông thứ hai.

– Anh ơi. Em tìm thấy chiếc guốc. – Tôi nói. – Chiếc chân trái của ông Khoáng. Trên mái nhà B7, sau bể nước. Em có ảnh, ảnh có giờ.

Đầu dây bên kia im lặng một giây.

– Chị gửi ảnh cho tôi ngay. – Anh nói. – Chị đừng quay lại đó. Chị ngồi yên ở chỗ đông người. Tôi đến.

Tôi gửi ảnh. Rồi tôi ngồi ở quán nước chè, ôm chén nước nóng, nhìn ra nhà B7. Bà cụ bán nước không hỏi gì, chỉ rót thêm cho tôi chén nữa. Tôi đếm từng phút trên điện thoại.

Hai giờ bốn mươi, điện thoại rung. Bà Xâm.

– Cháu xuống chưa? Nửa tiếng rồi đấy.

– Cháu xuống rồi bà ạ. Cháu đang ngồi ở quán nước đầu ngõ.

– Ừ. – Bà nói, rồi ngừng một lúc. – Thế thì tốt. Lúc nãy tôi nghe tiếng dép ông Lạp đi lên đi xuống cầu thang sau, tưởng cháu còn ở trên ấy.

Bà cúp máy trước khi tôi kịp hỏi mấy giờ.

Tôi ngẩng lên nhìn nhà B7. Từ quán nước đầu ngõ nhìn chéo sang, thấy được góc tường bao trên sân thượng, thấy một góc cái bể inox lấp loáng dưới trời chiều xám. Hai cái chăn bông phơi quên vẫn đung đưa trên dây. Tôi nhìn chằm chằm vào góc mái ấy cho đến khi mắt cay xè. Không có ai. Chỉ có mấy con chim sẻ đậu trên tường bao, bay lên, rồi lại đậu xuống.

Tôi không biết bà Xâm nghe thấy tiếng dép lúc nào. Tôi không biết ông Lạp lên đến đâu. Tôi chỉ biết từ lúc tôi gọi điện đến giờ, cái chăn bông trên dây phơi phía bên trái đã bị ai đó kéo lệch sang một bên, cái góc chăn giờ buông thõng ra ngoài tường bao.

Ba giờ hai mươi, trung úy Vịnh đến, đi cùng chị Ngân và một anh công an phường. Tôi dẫn họ lên. Anh công an phường gõ cửa nhà 505. Ông Lạp ra mở cửa, áo len, quần ngủ, kính lão trễ trên mũi, tay cầm tờ báo.

– Ôi, các chú. Có việc gì thế?

Trung úy Vịnh nói, bên anh cần kiểm tra sân thượng, phiền bác mở cửa mái. Ông Lạp không hỏi gì thêm. Ông vào nhà lấy chùm chìa khoá, đi trước, mở cửa, đứng tránh sang một bên, lịch sự như người chủ nhà mời khách.

Tôi đi thẳng ra phía sau bể nước.

Đống lá bàng khô vẫn ở đó. Cái khe hở giữa chân bệ gạch và tường bao vẫn ở đó.

Chiếc guốc không còn.

Tôi quỳ xuống, gạt đống lá ra. Không có gì. Tôi rọi đèn pin vào khe. Chỉ có bụi, có cái vỏ bao thuốc lá cũ, có mấy mẩu tàn thuốc. Không có guốc.

– Chị Hoè. – Trung úy Vịnh đứng sau lưng tôi. Giọng anh bình thường.

– Nó ở đây. – Tôi nói. – Một tiếng trước nó ở đây. Anh xem ảnh rồi.

– Tôi xem rồi. – Anh nói.

Ông Lạp đứng ở cửa mái, hai tay đút túi áo len.

– Cháu Hoè chắc nhìn nhầm. – Ông nói, nhẹ nhàng, như người lớn nói với trẻ con. – Trên này các nhà phơi đồ, trẻ con lên chơi, dép guốc bỏ quên đầy ra. Mà cái cửa mái bác khoá suốt, có ai lên được đâu.

Ông nói câu ấy, rồi ông nghe thấy chính mình vừa nói gì. Tôi thấy ông nghe thấy. Mắt ông khẽ chớp một cái, rất nhanh, như con mắt người lái xe vừa thấy cái ổ gà khi đã quá muộn để tránh.

Không ai lên được. Trừ người giữ chìa.

Trung úy Vịnh không nói gì. Anh nhìn ông Lạp một lúc. Rồi anh quay sang chị Ngân, bảo chị chụp ảnh khe hở sau bể, chụp đống lá, chụp ổ khoá cửa mái, nhặt cả mấy mẩu tàn thuốc cho vào túi nilon.

– Bác Lạp. – Anh nói. – Trong một tiếng vừa rồi, bác có lên mái lần nào không?

– Không. – Ông Lạp đáp, không chậm lấy một giây. – Bác ngồi đọc báo trong nhà từ lúc cháu Hoè xuống.

Trung úy Vịnh gật đầu, ghi vào sổ. Anh không hỏi thêm câu nào. Lúc xuống cầu thang, anh đi sau tôi, đến hành lang tầng bốn thì dừng lại, hỏi rất khẽ:

– Bà cụ hay nghe ngóng ở phòng 403 phải không?

Tôi gật. Anh không nói gì, chỉ chỉnh lại cặp kính, rồi đưa tay gõ ba tiếng lên cánh cửa 403. Bên trong, tôi nghe tiếng then cửa rút ra ngay lập tức, như bà Xâm đã đứng chờ sẵn sau cánh cửa từ lâu lắm rồi.

— Hết chương 6 —

Mục lục Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

  1. 1Câu đố tháng Mười Một8 phút
  2. 2Tiếng keng lúc năm giờ9 phút đọc
  3. 3Không một lít9 phút đọc
  4. 4Nhà 406 đi vắng10 phút đọc
  5. 5Người cháu ngoại9 phút đọc
  6. 6Chiếc guốc sau bể nước9 phút đọc
  7. 7Danh sách dán trên bảng tin9 phút đọc
  8. 8Guốc hay dép9 phút đọc
  9. 9Chén trà phòng 5059 phút đọc
  10. 10Hai tiếng keng giữa cuộc họp9 phút đọc
  11. 11Chỉ số cuối cùng9 phút đọc

Về truyện này

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →