AI Truyện
Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

🔍 Trinh thám

Người cháu ngoại

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng · Chương 5/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Người cháu ngoại

Thức ngồi ở quán nước chè đầu ngõ Ao Rau, cái quán chỉ có một cái ấm tích to ủ trong giỏ, mấy cái ghế nhựa thấp và một bà cụ móm mém ngồi tước lạc. Anh ta vẫn mặc cái áo khoác của ứng dụng xe ôm, mũ bảo hiểm đặt trên đùi. Sáu giờ chiều thứ Hai. Trời đã tối, đèn đường vàng vọt, hoa sữa rụng lấm tấm trên mặt ghế.

Tôi đứng trước mặt anh ta một lúc lâu anh ta mới ngẩng lên.

– Chị là người ghi nước.

– Vâng.

– Chị là người làm công an gọi tôi lên. – Anh ta nói, không gay gắt, chỉ mệt. – Từ tám giờ sáng đến ba giờ chiều. Hỏi đi hỏi lại. Tối thứ Năm tôi ở đâu, làm gì, với ai, mấy giờ.

– Em xin lỗi anh.

– Xin lỗi gì. – Thức nói. – Chị có nói sai đâu.

Anh ta kéo cái ghế nhựa bên cạnh ra cho tôi. Bà cụ bán nước rót cho tôi một chén chè xanh, nước vàng sánh, bốc khói. Tôi cầm chén chè cho ấm tay, không uống.

– Mai đám ông tôi. – Thức nói. – Chín giờ sáng ở nhà tang lễ. Pháp y trả ông chiều nay.

Anh ta kể. Tôi không hỏi gì, anh ta tự kể, như người cần một cái tai, tai ai cũng được. Con gái anh ta bốn tuổi, mổ tim hồi tháng Bảy ở viện Nhi, hết hơn hai trăm triệu. Anh ta vay của họ hàng, vay cả chỗ người ta cho vay ngày, bây giờ mỗi tháng trả lãi gần bằng tiền chạy xe. Vợ anh ta bán hàng nước ở cổng viện. Cái phiếu đồng thuận ấy, nếu ông ký, thì bên môi giới ứng trước cho mỗi hộ một khoản tiền hỗ trợ, đủ trả nợ.

– Tôi biết ông không thích. – Thức nói. – Ông bảo cái nhà ấy là chỗ cuối cùng ông được ngồi mà nhìn ra cái hồ ông lái tàu chạy qua hơn hai mươi năm. Ông bảo lên chung cư mới, cửa sổ nhìn ra tường nhà người ta. Tôi biết. Tôi vẫn cãi. Tôi bảo ông không ký thì tôi chết. Câu ấy cả tầng bốn nghe thấy, giờ công an ghi vào biên bản.

– Rồi anh đi đâu?

– Bảy giờ hai mươi tôi đến quán bia hơi đầu dốc, ngồi với hai thằng bạn chạy xe. Đến chín giờ thì bật máy chạy. Chạy đến gần năm giờ sáng. Cái ứng dụng nó lưu hết, cuốc nào đón ở đâu trả ở đâu, mấy giờ mấy phút. Công an in ra cả xấp. – Anh ta cười, cái cười méo mó. – Thế mà vẫn còn hai mươi phút. Từ lúc tôi đóng sầm cửa nhà ông đến lúc tôi ngồi xuống quán bia. Hai mươi phút ấy không ai làm chứng.

Tôi nghĩ đến hai cái ảnh đồng hồ. Không một lít. Từ bốn giờ chiều. Nếu ông Khoáng mất ngay sau bảy giờ, thì hai mươi phút của Thức là hai mươi phút nặng nhất.

– Lúc anh đi, ông còn nói gì không?

Thức im lặng một lúc. Bà cụ bán nước đã thôi tước lạc, ngồi nhai trầu, nhìn ra đường.

– Ông bảo: "Mày về đi." – Thức nói. – Ông bảo: "Tối nay ông còn phải lên trên ấy, nói chuyện cho ra nhẽ với một người." Tôi tưởng ông bảo lên phường. Ông hay lên phường làm đơn. Năm ngoái làm đơn cái lồng sắt nhà 406, năm kia làm đơn cái quán karaoke đầu ngõ. Tôi đang tức, tôi bảo ông thích làm đơn thì ông cứ làm, rồi tôi đi.

– Lên phường lúc bảy giờ tối thì ai tiếp ông?

Thức nhìn tôi. Anh ta mở miệng định nói, rồi lại thôi.

– Ừ. – Anh ta nói. – Ừ nhỉ.

Chúng tôi ngồi im một lúc. Xe máy chạy qua đầu ngõ, đèn pha quét qua mặt hai đứa. Bà cụ bán nước nhổ bã trầu vào cái ống bơ, rồi nói, không nhìn ai:

– Ông Khoáng ngồi đây chiều nào cũng một chén. Chiều thứ Năm cũng ngồi. Ông bảo tối nay ông có hẹn, uống ít thôi kẻo mất ngủ.

Thức quay sang bà cụ.

– Hẹn với ai hả bà?

– Ông không nói. – Bà cụ lắc đầu. – Ông chỉ bảo người ta hẹn ông tám giờ. Ông bảo người ta muốn nói chuyện riêng, đừng để cả nhà nghe.

Thức nhìn tôi. Tôi nhìn cái ấm tích to ủ trong giỏ. Tám giờ. Một người muốn nói chuyện riêng với ông Khoáng, không để cả nhà nghe.

– Còn một chuyện nữa. – Thức nói. – Tôi kể với công an rồi, nhưng chị là người hiểu cái nhà ấy. Ông tôi có một cái cặp ba dây màu vàng, loại cặp đựng hồ sơ ngày xưa. Tối hôm ấy nó nằm trên bàn. Lúc cãi nhau, ông cầm nó vỗ vỗ vào bàn, bảo: "Đây, cái này ông mang đi họp. Mày tưởng ông lẫn à? Ông không lẫn." Tôi không biết trong đó có gì. Ông không cho xem.

– Rồi sao anh?

– Sáng thứ Bảy, lúc chị với công an vào nhà, tôi tìm cái cặp ấy. – Thức nói. – Không thấy. Tôi lục cả tủ, cả gầm giường. Không có. Công an bảo trên người ông, ở cầu thang sau, cũng không có cái cặp nào.

Tôi đặt chén chè xuống. Nước chè đã nguội, đóng một lớp váng mỏng màu đồng. Bà cụ bán nước đổ đi, rót cho tôi chén khác, không hỏi.

Một cái cặp hồ sơ màu vàng. Một chiếc guốc chân trái. Hai thứ đi cùng ông Khoáng ra khỏi nhà tối thứ Năm, và không quay về.

– Anh Thức. – Tôi nói. – Ông bảo "lên trên ấy". Lên. Nhà ông ở tầng bốn. Trên tầng bốn là tầng năm, rồi đến mái.

– Tầng năm thì mấy nhà. – Thức nói. – Mái thì khoá.

– Ai giữ chìa mái?

Thức không trả lời. Có lẽ anh ta không biết. Anh ta không ở nhà B7, chỉ đến thăm ông. Nhưng tôi biết. Ba năm đi ghi số ở nhà B7, tôi biết ai cầm chìa cái gì. Muốn lên mái phơi chăn thì phải gõ cửa xin. Muốn thay bóng đèn thì phải báo. Tôi đã quý người ấy như quý một ông bác trong họ. Việc gì trong nhà B7, từ cái bóng đèn cầu thang đến cái khoá cửa mái, đều qua tay một người.

Tôi không nói tên ấy ra. Tôi sợ nói ra thì nó thành thật.

– Mai em đi đám ông được không anh? – Tôi hỏi.

Thức nhìn tôi rất lâu.

– Được. – Anh ta nói. – Ông chắc thích. Ông chưa nghe chị trả lời câu đố.

Đám tang ông Khoáng sáng thứ Ba vắng người. Mấy ông bạn già cùng đội tàu điện cũ, chống gậy, đeo huân chương trên ngực áo vest đã sờn. Vài người hàng xóm nhà B7. Bà Xâm đến sớm nhất, khóc to nhất. Vợ chồng anh Đạo đến, đứng ở cuối, không nói chuyện với ai. Vợ Thức bế đứa con gái bốn tuổi, con bé có một vết sẹo dài trên ngực, lộ ra ở cổ áo. Di ảnh ông Khoáng là tấm ảnh cắt từ bức ảnh treo trong phòng 405, chàng trai đội mũ cát đứng ở buồng lái tàu điện, cười nheo mắt. Bên cạnh di ảnh, Thức đặt một chén trà nóng. Khói trà bốc lên mỏng, rồi tan trong cái lạnh của gian phòng.

Tôi đứng cạnh một ông cụ đội mũ dạ, ngực đeo ba cái huân chương, tay chống cái ô đen thay gậy. Ông cụ hỏi tôi là cháu gì của thằng Khoáng. Tôi bảo cháu là người ghi nước nhà ông. Ông cụ nhìn tôi, rồi gật gù như thể chuyện ấy cũng hợp lý.

– Tôi là Bảng, phụ xe cho nó mười hai năm. – Ông cụ nói. – Nó lái, tôi bán vé, giật dây chuông. Cái chuông treo ở cửa nhà nó ấy, ngày xưa tôi giật nhiều hơn nó.

Ông kể chuyện tàu điện. Chuyện những sáng đông sương mù đặc, tàu chạy qua Bờ Hồ phải gõ chuông liên hồi. Chuyện có lần một đứa bé chạy ngang đường ray ở Ngã Tư Sở, ông Khoáng phanh gấp, cả toa ngã dúi dụi, đứa bé không sao. Chuyện ông Khoáng không bao giờ cho ai hút thuốc trên toa, kể cả cán bộ.

– Nó sợ có mỗi một thứ. – Ông Bảng nói. – Độ cao. Lái tàu cả đời dưới mặt đất, đứng lên cái ghế thay bóng đèn còn run chân. Hồi lụt năm bảy mốt, cả đội phải trèo lên nóc toa tránh nước, mỗi nó ngồi lì dưới sàn, nước đến bụng cũng không trèo.

Tôi quay sang nhìn ông cụ.

– Ông ơi, thế ông Khoáng có hay lên sân thượng ngồi hóng gió không ạ?

Ông Bảng nhíu mày.

– Hóng gió? Trên sân thượng? – Ông cụ lắc đầu. – Thằng Khoáng á? Cô đùa tôi. Nó đi lối cầu thang sau là vì lối ấy ra hồ gần, chứ cái cửa mái thì nó chẳng bao giờ bén mảng. Mấy chục năm nay tôi đến chơi, nó chưa một lần rủ tôi lên mái.

Tôi nhớ lại câu ông Lạp nói với trung úy Vịnh sáng thứ Sáu, ở hành lang tầng bốn. Ông cụ có cái thói, mấy hôm trời đẹp hay lên ngồi ở bậc trên cùng cạnh cửa mái, hóng gió. Lúc ấy tôi đã thấy vương vướng mà không biết vì sao. Bây giờ thì tôi biết.

Ông Lạp đến lúc chín giờ kém năm, mặc bộ comple đen, thắt cà vạt. Ông đọc điếu văn thay mặt tổ dân phố. Ông đọc hay. Giọng ông trầm, ấm, ngắt nghỉ đúng chỗ. Ông kể về người lái tàu điện hai mươi sáu năm, về những sáng mùa đông ông Khoáng gõ chuông keng keng ở cửa, về cái lòng thẳng thắn của một người già không bao giờ sợ ai. Có mấy người khóc. Tôi cũng khóc.

Đọc xong, ông Lạp gấp tờ điếu văn lại, cúi đầu trước di ảnh rất lâu. Rồi ông quay sang bắt tay Thức, vỗ vai anh ta, nói gì đó tôi không nghe được.

Lúc ra về, ông đi ngang chỗ tôi đứng. Ông dừng lại.

– Cháu Hoè cũng đến à. – Ông nói. – Tốt quá. Ông cụ quý cháu lắm.

– Vâng ạ.

– À, nhân tiện. – Ông Lạp hạ giọng. – Mấy nhà trên tầng năm kêu nước yếu lắm, cả tuần nay, cứ chiều là vòi chảy nhỏ như sợi chỉ. Chắc cái bể trên mái có vấn đề. Cháu xem có ai bên công ty lên kiểm tra được không. Chìa cửa mái bác giữ, lúc nào lên thì cháu bảo bác.

Ông mỉm cười, gật đầu chào tôi, rồi đi ra cổng, cái lưng thẳng, tóc chải bóng, giữa một đám người cúi đầu.

— Hết chương 5 —

Mục lục Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

  1. 1Câu đố tháng Mười Một8 phút
  2. 2Tiếng keng lúc năm giờ9 phút đọc
  3. 3Không một lít9 phút đọc
  4. 4Nhà 406 đi vắng10 phút đọc
  5. 5Người cháu ngoại9 phút đọc
  6. 6Chiếc guốc sau bể nước9 phút đọc
  7. 7Danh sách dán trên bảng tin9 phút đọc
  8. 8Guốc hay dép9 phút đọc
  9. 9Chén trà phòng 5059 phút đọc
  10. 10Hai tiếng keng giữa cuộc họp9 phút đọc
  11. 11Chỉ số cuối cùng9 phút đọc

Về truyện này

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →