Chương 10: Hai tiếng keng giữa cuộc họp
Phòng sinh hoạt cộng đồng ở tầng một nhà B7 là một gian rộng chừng ba chục mét vuông, ngày thường để các cụ tập dưỡng sinh và cho bọn trẻ học thêm. Sáng Chủ nhật, người ta kê năm hàng ghế nhựa xanh, một cái bàn dài phủ khăn đỏ ở đầu phòng, trên bàn có bình hoa cúc vàng, mấy chai nước suối và một cái micro không dây. Tám giờ rưỡi, ghế đã kín. Người không có ghế đứng dọc tường, đứng cả ra ngoài cửa.
Chưa bao giờ một cuộc họp tổ dân phố nhà B7 đông như thế. Bà Xâm bảo, ngày thường họp chỉ được mười mấy cụ, ngồi nghe ông Lạp đọc thông báo rồi về nấu cơm. Hôm nay nhà nào cũng có người. Có cả những người thuê trọ chưa từng dự họp bao giờ, có cả mấy đứa trẻ con bị bố mẹ dắt theo vì không có ai trông, ngồi bệt dưới sàn nhai bỏng ngô. Người ta không nói to. Người ta thì thầm, nhìn lên cái bàn phủ khăn đỏ, rồi nhìn nhau. Ai cũng biết hôm nay không phải một cuộc họp bình thường, mà không ai biết nó sẽ thành cái gì.
Tôi ngồi ở hàng thứ ba, cạnh bà Xâm. Bà mặc áo dạ đen, cài cái trâm bạc trên tóc, cái trâm tôi chưa thấy bà cài bao giờ. Bà nắm tay tôi suốt từ lúc ngồi xuống. Bên kia bà Xâm là Na và Hiếu. Vợ chồng anh Đạo ngồi hàng đầu. Chị Hằng ngồi cuối phòng, cái túi xách ôm trong lòng.
Thức đến muộn, đứng ở cửa. Anh ta mặc áo sơ mi trắng, chiếc áo duy nhất không phải áo của ứng dụng xe ôm mà tôi từng thấy anh ta mặc. Tay anh ta xách một cái túi vải. Từ miệng túi lộ ra một mép đồng vàng xỉn và một đoạn dây gai.
Cái chuông của ông Khoáng.
Anh ta thấy tôi nhìn, khẽ gật đầu. Sau này anh ta bảo tôi, anh ta mang nó đến vì nghĩ ông phải được dự cuộc họp ấy. Ông đã chờ nó cả tuần.
Ngồi ở bàn đầu phòng có ông Lạp, người đàn ông trẻ mặc vest không cà vạt của bên chủ đầu tư mà tôi thấy hôm thứ Năm, và một chị cán bộ phường phụ trách mảng đô thị. Ông Lạp mặc bộ comple đen như hôm đám tang. Ông ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên tập hồ sơ màu xanh, mặt không có biểu cảm gì.
Đúng tám giờ bốn mươi, ông cầm micro.
Ông khai mạc như mọi lần. Thưa bà con. Lý do. Thành phần. Ông đọc chương trình. Giọng ông vẫn trầm, ấm, từng chữ rõ ràng. Rồi ông mở tập hồ sơ, rút ra bản danh sách đồng thuận, cái bản bốn trang khổ A4 tôi đã chụp ở bảng tin.
– Theo danh sách này, – ông nói, – có ba mươi chín trên bốn mươi hộ nhà B7 đã ký đồng thuận. Hộ còn lại là hộ 405, cụ Kha Văn Khoáng, đã mất ngày thứ Năm tuần trước.
Ông dừng lại. Cả phòng im lặng. Rồi ông đặt bản danh sách xuống bàn, lấy bàn tay đè lên nó.
– Nhưng con số ấy sai. – Ông nói. – Có bốn hộ trong danh sách này chưa từng ký. Hộ 406, hộ 502, hộ 214, hộ 318. Tôi ghi trước. Tôi tự ký hộ. Tôi xin lỗi bà con.
Phòng họp ồ lên. Người đàn ông trẻ bên chủ đầu tư quay sang nhìn ông Lạp, mặt biến sắc. Chị cán bộ phường cầm bút ghi gì đó rất nhanh. Ở hàng đầu, anh Đạo đứng bật dậy, rồi lại ngồi xuống khi chị Thục kéo tay.
Chị Hằng đứng lên ở cuối phòng.
– Mẹ tôi là bà Đỗ Thị Sính, hộ 502. – Chị nói to, giọng run nhưng không vỡ. – Mẹ tôi mất ngày chín tháng Ba. Giấy chứng tử tôi mang theo đây. Danh sách của ông ghi mẹ tôi ký ngày mười hai tháng Năm. Mẹ tôi cả đời không biết ký, chỉ điểm chỉ.
Người đàn ông trẻ bên chủ đầu tư cầm micro lên, nói những hộ ấy hoàn toàn có thể ký bổ sung, đây chỉ là sai sót thủ tục, không ảnh hưởng đến chủ trương chung. Không ai nghe anh ta. Cả phòng đang nhìn ông Lạp.
Ông Lạp không ngồi xuống. Ông đứng ở đầu bàn, nhìn ra cửa, về phía Thức.
– Anh Thức. – Ông nói. – Anh cho tôi mượn cái chuông của ông cụ được không?
Thức đứng im một lúc lâu. Rồi anh ta đi lên. Cả phòng dạt sang hai bên cho anh ta đi. Anh ta lấy cái chuông đồng ra khỏi túi vải, đặt lên bàn phủ khăn đỏ, cạnh bình hoa cúc, rồi lùi lại một bước. Không nói gì.
Ông Lạp nhìn cái chuông. Ông cầm nó lên bằng hai tay, như người ta bưng một bát hương. Cái quả lắc buông thõng. Cái dây gai lủng lẳng.
Ông nắm lấy cái dây gai. Giật hai cái.
Keng. Keng.
Tiếng chuông vang lên trong gian phòng ba chục mét vuông, cao, trong, ngân dài. Cái tiếng mà ba mươi năm nay, sáng nào người nhà B7 cũng nghe lúc năm giờ, cái tiếng ông Khoáng bảo là tàu chạy.
Bên cạnh tôi, bà Xâm hít vào một hơi rất mạnh, rồi bịt miệng bằng cả hai tay.
– Đúng tiếng ấy. – Bà nói qua kẽ tay. – Đúng tiếng ấy.
Ông Lạp đặt cái chuông xuống bàn. Tay ông bây giờ mới run.
– Ông Khoáng đố tôi một câu, chiều thứ Năm. – Ông nói. Ông không cầm micro nữa, nhưng phòng im đến mức ai cũng nghe. – Có miệng mà không có răng. Có lưỡi mà không biết nếm. Cả đời chỉ nói một câu. Ai đánh nó, thì nó nói hộ người ấy.
Ông nhìn cái chuông.
– Là cái chuông. – Ông nói. – Năm giờ sáng thứ Sáu, tôi đánh nó. Và nó nói hộ tôi. Nó nói với cả cái nhà này rằng ông Khoáng còn sống, còn đi ra hồ. Bà Xâm nghe. Cả nhà nghe. Cả công an nghe.
Không ai cử động.
Ông Lạp kể. Không nhìn ai, mắt đặt vào khoảng không trên đầu mọi người, giọng phẳng như đọc biên bản.
Tối thứ Năm, ông hẹn ông Khoáng lên mái lúc tám giờ. Ông bảo có chuyện riêng muốn nói, đừng để cả nhà nghe. Ông định thuyết phục. Ông định xin. Ông Khoáng lên, mang theo cái cặp ba dây màu vàng. Trong cặp có những tờ giấy ông Khoáng đã đi gõ cửa từng nhà xin: chữ ký xác nhận của các hộ 406, 214, 318 rằng họ chưa từng ký phiếu đồng thuận. Có cả một bản sao giấy chứng tử của bà Sính mà ông Khoáng xin được ở đâu đó. Ông Khoáng bảo, Chủ nhật tuần sau tôi đưa cái này ra trước cả nhà.
Hai ông già cãi nhau trên mái. Ông Khoáng vấp vào cái ống nước sau bể, ngã khuỵu, một chiếc guốc văng vào khe. Ông Lạp đỡ ông dậy. Trời tối, gió to. Ông Khoáng bảo thôi không nói nữa, xuống. Ông Khoáng đi trước, một chân guốc một chân đất, tay cầm đèn pin, tay kẹp cái cặp. Ông Lạp đi sau.
– Qua khỏi tầng năm, đến giữa cái đợt cầu thang xuống tầng bốn, – ông Lạp nói, – tôi giật cái cặp. Tôi chỉ định giật cái cặp. Ông ấy giữ. Tôi giật mạnh hơn.
Ông ngừng lại.
– Ông ấy ngã về phía trước. Xuống hết mấy bậc còn lại, đến chiếu nghỉ giữa tầng năm với tầng bốn. Cái đèn pin tắt. Tôi đứng ở trên. Tôi gọi ông ấy. Ông ấy không thưa.
Na ở bên kia bà Xâm khẽ kêu lên một tiếng. Tám rưỡi. Tiếng thịch rất nặng.
– Tôi đi xuống. – Ông Lạp nói. – Tôi đứng cạnh ông ấy. Trời tối quá, tôi không nhìn thấy mặt ông ấy. Tôi nhặt cái cặp ở dưới chân ông ấy lên. Rồi tôi đi lên. Tôi đi về nhà, khoá cửa, ngồi ở phòng khách đến sáng. Vợ tôi nằm trong buồng. Tôi không bật đèn.
Gần năm giờ, ông xách đôi dép trên tay, đi chân không xuống tầng bốn bằng cầu thang chính. Ông tháo sợi dây chun đỏ ở cái chuông trên khung cửa 405, bỏ vào túi áo. Năm giờ đúng, ông giật hai cái. Ông ho mấy tiếng khan, như ông Khoáng vẫn ho. Rồi ông xỏ dép, đi xuống cầu thang chính, ra hồ, đến câu lạc bộ dưỡng sinh lúc năm giờ mười, đứng tập cùng mọi người. Ông đã nghĩ rất kỹ. Nếu ông Khoáng ngã lúc năm giờ, trên đường ra hồ, thì không ai hỏi tối hôm trước ông ấy lên mái với ai.
Chiều thứ Tư, sau khi tôi xuống khỏi mái, ông quay lên nhặt chiếc guốc trong khe sau bể, bọc vào túi nilon, đem ra hồ Ao Rau ném xuống chỗ nước sâu nhất, gần cái cống thoát. Ông kể chuyện ấy bằng đúng cái giọng ông kể chuyện thay bóng đèn.
– Tôi không biết cái đồng hồ nước. – Ông nói. – Tôi sống ở cái nhà này ba mươi năm, tôi không biết cái đồng hồ nước nó đếm.
Ông nhìn xuống hàng ghế thứ ba. Nhìn tôi.
Có tiếng cửa mở ở cuối phòng. Trung úy Vịnh đi vào, cùng chị Ngân và hai người công an mặc sắc phục. Họ không vội. Họ đi dọc lối giữa hai dãy ghế, dừng lại trước bàn phủ khăn đỏ.
– Bác Lạp. – Trung úy Vịnh nói. – Mời bác về cơ quan làm việc.
Ông Lạp gật đầu. Ông gấp bản danh sách đồng thuận lại, gấp đôi, gấp tư, đặt lên tập hồ sơ màu xanh, đẩy sang cho chị cán bộ phường. Rồi ông bước ra khỏi bàn.
Đi ngang hàng ghế thứ ba, ông dừng lại. Không nhìn tôi. Ông nhìn bà Xâm.
– Bà Xâm. – Ông nói. – Lúc tôi đi xuống, lúc tôi đứng cạnh ông ấy trên cái chiếu nghỉ tối om ấy, – giọng ông lần đầu tiên vỡ ra, – ông ấy có còn thở không? Bà nằm sát tường, bà nghe được tiếng con muỗi. Bà có nghe thấy ông ấy thở không?
Bà Xâm nhìn ông. Bà không trả lời.
Không ai trả lời được câu ấy. Pháp y không trả lời được. Cái đồng hồ nước cũng không. Nó chỉ đếm từng lít nước chảy qua, không đếm được những hơi thở cuối cùng trên một cái chiếu nghỉ không có đèn.
Ông Lạp đi ra cửa giữa hai người công an. Ở bàn đầu phòng, cái chuông đồng của ông Khoáng nằm cạnh bình hoa cúc vàng, cái quả lắc vẫn còn rung rất khẽ.
— Hết chương 10 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe