AI Truyện
Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

🔍 Trinh thám

Chỉ số cuối cùng

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng · Chương 11/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Chỉ số cuối cùng

Sáng thứ Hai, bảy giờ, đội lắp đặt đồng hồ đọc từ xa đến nhà B7 với hai thùng các tông và một cái máy khoan.

Anh Cự gọi cho tôi từ sáu giờ sáng. Anh bảo giám đốc Thành đã đọc tin, đã gọi cho bên công an phường, đã rút cái quyết định cho tôi nghỉ tuyến. Anh bảo, tuyến của em thì em đọc nốt lần cuối, rồi lên văn phòng cũng được. Tôi bảo vâng. Tôi không bảo anh là cả đêm qua tôi không ngủ. Ba giờ sáng mẹ tôi dậy đồ xôi, thấy tôi ngồi ở mép giường, bà không hỏi. Bà xới cho tôi một nắm xôi lạc đầu nồi, nóng hổi, gói trong lá chuối, bảo ăn đi rồi đi làm. Tôi ăn hết. Lúc tôi dắt xe ra cửa, mẹ tôi nói với theo một câu, vẫn không quay lại nhìn, tay vẫn đảo nồi: mày nói rồi đấy. Thế là được.

Tôi đứng ở chiếu nghỉ tầng một, mở hộp đồng hồ đầu tiên. Lau mặt kính. Đọc số. Chụp ảnh. Anh thợ lắp đặt chờ tôi đọc xong mới tháo cái đồng hồ cũ ra, lắp vào cái mới, nhỏ hơn, mặt điện tử, có một cái đèn xanh nhấp nháy. Từ hôm nay, mỗi giờ nó tự gửi số về máy chủ của công ty. Không cần ai leo cầu thang nữa.

Tầng một. Tầng hai. Tầng ba. Người ta mở cửa nhìn tôi đi qua. Có người chào. Có bà cụ tầng hai dúi cho tôi quả quýt, như bà Sính ngày xưa. Không ai hỏi gì về ông Lạp. Nhưng cả nhà B7 nhìn tôi khác hẳn. Tôi không biết là tốt hay xấu.

Tầng bốn.

Bà Xâm đứng ở cửa 403 từ lúc tôi lên đến chiếu nghỉ. Bà không quấn lô, không bôi kem. Bà mặc cái áo len cũ, cầm một cốc trà gừng.

– Cho cháu. – Bà nói. – Sáng nay rét.

Tôi uống một ngụm. Cay xè.

Tôi đọc đồng hồ 403, 404, 406. Cái két nước nhà 406 đã thay gioăng, kim lít đứng im như tượng. Chị Thục từ trong nhà nói vọng ra, cảm ơn em nhé, tháng này chắc đỡ được hai trăm nghìn.

Rồi đến đồng hồ 405.

Trung úy Vịnh đứng chờ ở hành lang. Anh mặc thường phục, tay cầm một cái túi đựng vật chứng bằng nilon dày và một tờ biên bản. Anh bảo, bên anh xin giữ lại đồng hồ 405 làm vật chứng, có biên bản giao nhận với công ty nước. Anh Cự đã ký trước rồi. Bây giờ chỉ cần người đọc số ký nốt.

Tôi ngồi xổm trước hộp đồng hồ. Lau mặt kính lần cuối. Chiếu đèn pin.

Dãy số đen. Bốn cái kim đỏ.

Từ bốn giờ mười một phút chiều thứ Năm tuần trước nữa, cái đồng hồ này chỉ quay đúng một lần. Đó là sáng thứ Bảy hai hôm sau, khi trung úy Vịnh mở vòi nước ở bếp cho tôi đứng nhìn. Ba mươi mốt lít. Tôi biết con số ấy vì tôi đã chụp ảnh nó trước và sau. Từ đấy đến nay nó không quay thêm một vạch nào nữa. Căn phòng 405 khoá cửa, không còn ai dậy lúc bốn giờ rưỡi hứng nước đun ấm pha trà.

Tôi đọc số. Chụp ảnh. Ghi vào biên bản.

– Chị Hoè. – Trung úy Vịnh nói khi tôi đứng dậy. – Hôm qua tôi chưa kịp nói với chị.

– Dạ.

– Cái cặp ba dây màu vàng ấy, bên tôi tìm thấy trong ô kho nhà 505 chiều thứ Bảy, giấu dưới một chồng báo cũ. Còn nguyên mọi tờ giấy. – Anh nói. – Ông ấy không đốt. Không xé. Ông ấy giữ nguyên, một tuần.

– Sao ông ấy không huỷ đi hả anh?

Trung úy Vịnh nhìn cánh cửa 405.

– Tôi cũng hỏi ông ấy câu ấy. – Anh nói. – Ông ấy bảo, giấy của người chết, ông ấy không dám đốt.

Anh lắc đầu, như người không biết nên nghĩ gì về câu trả lời ấy. Rồi anh bảo, việc của bên anh còn dài, còn phải làm rõ nhiều thứ, có kết luận thì sẽ có thông báo theo quy định. Anh bắt tay tôi, cảm ơn tôi lần thứ ba trong một tuần. Rồi anh cầm cái đồng hồ 405 đã tháo, bỏ vào túi nilon, dán niêm phong, đi xuống cầu thang chính.

Anh thợ lắp đặt lắp vào hộp 405 một cái đồng hồ mới. Cái đèn xanh nhỏ nhấp nháy. Nó không cần ai đọc nữa.

Bà Xâm vẫn đứng ở cửa 403, nhìn cái đèn xanh ấy rất lâu.

– Cái máy này nó có nghe được không cháu? – Bà hỏi.

– Nó không nghe bà ạ. Nó chỉ đếm nước.

– Ừ. – Bà gật. – Thế thì nó cũng như cái cũ. Cái cũ cũng chỉ đếm nước. Mà nó đếm đúng.

Bà quay vào nhà, rồi lại quay ra, như sực nhớ điều gì.

– Sáng nay năm giờ năm, – bà nói, – tôi không nghe tiếng dép nào cả. Cả cái nhà này không ai đi xuống lúc năm giờ nữa. Tôi nằm chờ đến sáu giờ. Cháu bảo, bây giờ tôi lấy cái gì làm đồng hồ báo thức?

Tôi không biết trả lời bà thế nào. Bà cũng không chờ tôi trả lời. Bà đóng cửa lại, nhẹ nhàng, lần đầu tiên không cài then.

Tôi lên tầng năm. Đồng hồ 501, 503, 504. Đồng hồ 502 vẫn niêm chì, tôi ghi vào biên bản: niêm chì nguyên vẹn, chủ hộ đã mất. Đồng hồ 505 thì cửa nhà khoá, người con trai ông Lạp từ quê lên đưa mẹ về quê chăm từ tối qua. Tôi đọc số, chụp ảnh, không nhìn vào cánh cửa.

Mười một giờ, tôi xong việc.

Thức đứng chờ tôi ở chân cầu thang chính, tay cầm cái túi vải.

– Chị Hoè. – Anh ta nói. – Ông tôi hứa với chị một bát bún ốc.

Quán bún ốc đầu ngõ Ao Rau là một cái quán vỉa hè có ba cái bàn gỗ thấp, mười hai cái ghế nhựa đỏ. Nồi nước dùng to đặt trên bếp than, bốc mùi giấm bỗng, mùi chuối xanh, mùi tía tô. Bà chủ quán biết ông Khoáng. Bà nhìn thấy Thức thì đặt cái muôi xuống, chùi tay vào tạp dề, đến nắm tay anh ta, không nói gì. Rồi bà múc cho hai đứa hai bát đầy, ốc to, bỏ thêm đậu rán, không lấy tiền.

Chúng tôi ăn. Nước dùng chua thanh, ốc giòn, ớt cay xé lưỡi, mùi tía tô thơm lên tận mũi. Bà chủ quán đứng bên nồi nước dùng, chốc chốc lại nhìn sang cái ghế nhựa đỏ ở góc, cái ghế ông Khoáng hay ngồi. Tôi ăn hết bát. Lần đầu tiên sau gần hai tuần tôi thấy đói.

Thức đặt cái túi vải lên bàn, giữa hai cái bát rỗng. Anh ta lấy cái chuông đồng ra.

– Ông tôi bảo, ai giải được câu đố tháng này thì ông mời bún ốc. – Anh ta nói. – Bún ốc thì tôi mời thay rồi. Còn cái này, tôi nghĩ ông muốn chị giữ.

Tôi nhìn cái chuông. Màu đồng vàng xỉn, có mấy vết móp nhỏ ở vành. Cái quả lắc, cái dây gai. Cái thứ ông tháo từ toa tàu điện cuối cùng ông lái, năm chín mươi mốt, năm người ta dỡ đường ray Bờ Hồ đi Hà Đông.

– Em không giữ được đâu anh. – Tôi nói. – Nó là của nhà 405.

– Nhà 405 bây giờ là của tôi. – Thức nói. – Ông để lại cho tôi. Tôi chưa biết làm gì với nó. Cải tạo hay không cải tạo, bán hay không bán, tôi chưa biết. Bên phường bảo cái danh sách đồng thuận phải làm lại từ đầu, từng nhà ký thật, có người làm chứng. Lâu lắm.

Anh ta kể con gái anh ta đã đi mẫu giáo lại được, vết mổ trên ngực đã lên da non. Anh ta kể bên môi giới hôm qua gọi điện đòi lại khoản tiền hỗ trợ họ hứa với các hộ, rồi tối qua lại gọi lần nữa, bảo thôi cứ để đấy. Anh ta kể vợ anh ta muốn bán căn 405 lấy tiền trả nợ, còn anh ta thì muốn giữ thêm ít lâu, ít nhất qua giỗ đầu của ông.

– Ông thích ngồi ở cửa sổ nhìn ra hồ. – Anh ta nói. – Tôi muốn ngồi thử xem ông nhìn thấy gì.

Anh ta xoay cái chuông trên mặt bàn.

– Nhưng chị nói đi. – Anh nói. – Đáp án là gì?

Tôi nhìn cái chuông. Có miệng mà không có răng. Có lưỡi mà không biết nếm. Cả đời chỉ nói một câu. Ai đánh nó thì nó nói hộ người ấy.

Sáng thứ Sáu tuần trước nữa, nó đã nói hộ một người. Nó nói bằng giọng của ông Khoáng, đúng hai tiếng ông vẫn gõ mỗi sáng, và cả nhà B7 tin nó. Nó không biết nói dối. Nó chỉ nói hộ, như bao giờ nó cũng nói hộ, cho bất kỳ bàn tay nào giật dây.

– Cái chuông. – Tôi nói.

Thức gật đầu chậm rãi.

– Ông có bảo đúng không? – Anh hỏi.

– Ông bảo tháng sau mới trả lời. – Tôi nói.

Chúng tôi ngồi im một lúc ở cái bàn gỗ thấp. Bà chủ quán dọn hai cái bát đi. Hoa sữa đầu ngõ đã bắt đầu tàn, chỉ còn mùi thoang thoảng.

Cuối cùng tôi không cầm cái chuông về. Tôi bảo Thức treo nó lại chỗ cũ, trên khung cửa 405. Anh ta nghe tôi. Chiều hôm ấy, trước khi về quê vợ, anh ta trèo lên cái ghế đẩu, móc cái chuông vào đúng cái đinh cũ trên khung cửa, cái đinh đã gỉ màu nâu đỏ sau ba mươi năm.

Sáu giờ tối, tôi đi qua nhà B7 trên đường đi làm về. Tôi không có việc gì ở đấy nữa. Không còn đồng hồ nào để đọc. Nhưng tôi vẫn rẽ vào, vẫn leo bốn tầng cầu thang chính.

Hành lang tầng bốn vắng. Cửa 403 đóng, có tiếng tivi nhỏ bên trong. Cửa 405 khoá. Cái chuông đồng treo trên khung cửa, quả lắc buông thõng, khẽ đung đưa trong gió lùa từ cầu thang sau.

Tôi lấy trong túi ra một sợi dây chun đỏ, loại người ta buộc mớ rau ở chợ Khương Đình, mẹ tôi có cả túi. Tôi kiễng chân, quấn sợi dây quanh quả lắc, áp nó vào thành chuông. Hai vòng. Như ông vẫn buộc.

Cái chuông im.

Sau cánh cửa 403, tiếng tivi tắt. Tôi nghe tiếng bà Xâm trở mình trên cái giường kê sát bức tường một lần gạch. Rồi giọng bà, nhỏ, qua bức tường.

– Sáu giờ rồi đấy à.

– Vâng, bà ạ. – Tôi nói. – Sáu giờ rồi. Giờ tàu về xưởng.

— Hết —

Mục lục Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng

  1. 1Câu đố tháng Mười Một8 phút
  2. 2Tiếng keng lúc năm giờ9 phút đọc
  3. 3Không một lít9 phút đọc
  4. 4Nhà 406 đi vắng10 phút đọc
  5. 5Người cháu ngoại9 phút đọc
  6. 6Chiếc guốc sau bể nước9 phút đọc
  7. 7Danh sách dán trên bảng tin9 phút đọc
  8. 8Guốc hay dép9 phút đọc
  9. 9Chén trà phòng 5059 phút đọc
  10. 10Hai tiếng keng giữa cuộc họp9 phút đọc
  11. 11Chỉ số cuối cùng9 phút đọc

Về truyện này

Hai tiếng keng lúc năm giờ sáng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →