AI Truyện
Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

🏠 Gia đình & vả mặt

Loa biên phòng

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần · Chương 7/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Loa biên phòng

Tới trưa, trời Bãi Lở chuyển màu chì.

Gió đổi hướng lúc mười giờ, từ đông bắc quay về đông, thổi xiên vô bãi, cuốn cát bay rát mặt. Sóng ngoài cửa bến bắt đầu bạc đầu. Mấy chiếc ghe câu trong xóm đi đêm qua đã về đủ từ sáng sớm, đậu sát vô nhau, dây neo buộc đôi. Bà Tư Cận đóng cửa tiệm nước đá. Ông Sáu Bảnh chất bao cát lên nóc cabin ghe ổng.

Cái loa trên đồn biên phòng phát mỗi tiếng một lần. Áp thấp nhiệt đới đã hình thành, cách bờ chừng hai trăm cây số, di chuyển về phía tây, có khả năng mạnh lên. Vùng biển gần bờ gió mạnh cấp sáu, cấp bảy, giật cấp chín. Đề nghị tàu thuyền đang hoạt động trên biển khẩn trương vào nơi trú tránh, giữ liên lạc với bờ.

Tui ngồi trong nhà sau, cái máy bộ đàm đặt trên đùi. Tui dò kênh của vựa thằng Trung. Kênh đó tui biết, vì hồi trước mấy chiếc ghe lưới của vựa nó hay xin vô tổ đoàn kết của tui chạy chung.

Mười một giờ, tui nghe được tiếng thằng Trung. Giọng nó vui.

– Ba con kéo được hai mẻ rồi, cá nục bông. Đang chạy về.

Mười hai giờ rưỡi. Giọng thằng Trung không còn vui.

– Máy hơi nóng. Ba con nói không sao.

Hai giờ chiều. Tiếng rè rè, tiếng gió. Rồi giọng một thằng bạn ghe của vựa, thằng Phúc, mười chín tuổi, bằng tuổi tui hồi đó.

– Máy chết rồi. Đang trôi. Ông Tư nói thả neo...

Rồi rè. Rồi im.

Tui gọi lại. Một lần. Hai lần. Mười lần. Không ai trả lời.

Hai giờ hai mươi, con Kiều chạy ra nhà sau. Nó không mang dép. Tóc nó xổ ra, ướt mưa. Nó đứng ở cửa chái, cái cửa mà năm ngày nay nó chưa bước tới lần nào trừ lúc đặt cái bao cát đựng đồ của tui xuống.

– Dượng ơi. – Nó nói, giọng run. – Dượng ơi, anh Hai không nghe máy. Con gọi hai chục cuộc. Bên vựa nói ghe mất liên lạc rồi.

Thằng Tôm đứng sau lưng má nó. Mặt thằng nhỏ trắng bệch.

– Dượng biết. – Tui nói. – Dượng nghe bộ đàm.

– Dượng ơi, con lạy dượng...

– Con đừng lạy. – Tui đứng dậy. – Con vô nhà đi, ở với thằng Tôm. Có gì dượng báo.

Tui gọi điện lên đồn biên phòng. Người trực máy là một anh thượng úy tui quen mặt, ảnh nghe tui báo, hỏi tên ghe, số đăng ký, mấy người trên ghe, lần cuối liên lạc lúc mấy giờ, ở đâu. Tui trả lời từng câu. Ảnh nói tàu của đồn đang đi cứu một chiếc ghe hành nghề bị chìm máy phía bắc, cách mấy chục hải lý, phải hai ba tiếng nữa mới điều qua được. Ảnh hỏi tui có biết ghe đó có thể ở đâu không.

– Hòn Chà Là. – Tui nói. – Máy chết lúc hai giờ, nếu ông tài công có kinh nghiệm thì ổng sẽ cho thả neo, mà gió này neo không giữ nổi. Gió đông đẩy ghe dạt về phía hòn. Nếu may thì dạt vô bên khuất gió. Nếu không may thì dạt vô bãi đá ngầm mé ngoài.

– Chú là tổ trưởng tổ đoàn kết phải không?

– Dạ.

– Chú có ghe đủ sức ra không?

Tui nhìn ra bến. Ghe tui nằm đó, hai con mắt còn chưa sơn lại, mũi ghe trơ hai vệt gỗ nâu.

– Ghe tui mười hai mét, máy khỏe. Ngày thường ra tới hòn Chà Là chừng hai tiếng. Gió này phải chạy xiên gió, chừng hai tiếng rưỡi, ba tiếng.

Anh thượng úy im một lúc. Tui nghe tiếng ảnh nói với ai đó ở đầu bên kia.

– Chú nghe đây. Chú chỉ đi khi chú thấy chắc chắn ghe của chú chịu được. Chú mang đủ áo phao, giữ bộ đàm kênh của đồn, cứ ba mươi phút báo vị trí một lần. Thấy ghe bị nạn rồi thì báo ngay, không tự ý làm gì quá sức. Tàu của đồn xong việc bên kia sẽ qua thẳng hòn Chà Là. Chú đồng ý vậy không?

– Dạ đồng ý.

Tui cúp máy. Tui quay lại thì thấy con Nhiên đứng ở cửa nhà sau. Nó đã nghe hết.

– Dượng đi hả?

– Dượng đi.

Nó không nói "dượng đừng đi". Nó không nói "dượng cẩn thận". Nó chạy vô nhà trên, chạy ra, ôm theo hai cái áo phao màu cam của vựa, loại xịn, có còi, có đèn. Nó dúi vô tay tui.

– Của anh Hai để trong cốp xe. – Nó nói. – Dượng mặc một cái. Đưa thằng Cò một cái.

Tui ra bến. Thằng Cò đã đứng đó, áo mưa, ủng cao su, can dầu, cuộn dây kéo, như nó biết trước. Chú Chín Đen ngồi trên cái thùng xốp lật ngược ngoài kè, chống gậy, mặt nhìn ra biển.

– Mày đi hả Dảnh?

– Dạ.

– Tao biết mà. – Chú nói. – Tao biểu thằng Cò chuẩn bị từ hai giờ. Tao ngồi đây giữ bộ đàm với đồn cho mày. Tao già rồi, đi không nổi, ngồi nghe thì còn nổi.

Tui gật đầu. Tui leo lên ghe, nổ máy. Máy nổ giòn ngay lần đầu, cái máy cũ mà khỏe, như con trâu già không bao giờ phụ chủ.

Đúng lúc đó, có tiếng ai kêu trên kè.

– Dảnh! Chờ tao!

Ông Sáu Bảnh. Ổng chạy xuống bến, áo mưa bay phần phật, tay ôm một cuộn dây kéo to bằng bắp tay, loại dây nilon xanh chuyên kéo ghe.

– Dây mày nhỏ quá. – Ổng nói, quăng cuộn dây lên ghe tui. – Ghe lưới mười lăm mét, dây đó kéo đứt. Lấy dây tao.

Ổng đứng dưới kè, thở dốc, nhìn tui.

– Tao đi chung với mày. – Ổng nói.

– Anh Sáu ở lại. – Tui nói. – Ghe anh ở lại giữ bến. Lỡ có chuyện thì còn người ra tiếp.

Ông Sáu Bảnh đứng im một lúc. Rồi ổng gật đầu. Ổng không nói xin lỗi. Người làng biển ít khi nói câu đó. Ổng chỉ đưa tay ra, nắm chặt tay tui một cái, cái bàn tay chai sần mùi dầu máy.

– Năm hai ngàn mười hai mày kéo tao. – Ổng nói. – Tao nhớ.

Tui tách bến lúc hai giờ năm mươi.

Ra khỏi cửa bến, sóng đánh vô mũi ghe như búa tạ. Ghe tui chồm lên, rơi xuống, nước biển tạt qua cabin trắng xóa. Thằng Cò đứng sau lưng tui, hai tay bám cột cabin, áo phao cam của vựa thằng Trung chật trên người nó. Tui cầm bánh lái, chạy xiên gió, mũi ghe nhắm về phía đông nam, nơi hòn Chà Là đang chìm trong một màn mưa xám.

Ngoảnh lại, tui thấy trên kè có mấy cái bóng người đứng. Chú Chín Đen ngồi trên thùng xốp. Ông Sáu Bảnh. Bà Tư Cận. Con Kiều ôm thằng Tôm. Và con Nhiên, đứng cách mọi người một khoảng, ngay dưới cây cột đèn đầu bến, không mặc áo mưa, tóc bay tán loạn.

Ba giờ hai mươi, chú Chín Đen gọi bộ đàm.

– Dảnh. Đồn báo áp thấp mạnh lên rồi. Gió giật cấp tám. Mày còn đi được hông?

Tui nhìn ra trước. Biển trước mặt tui là một bức tường nước xám, cái này chồng lên cái kia, không thấy đâu là chân trời.

– Còn đi được chú. – Tui nói.

Tui chạy theo con nước. Ra biển trong gió lớn, người ta không chạy theo đường thẳng. Người ta chạy theo sóng, như đi xe máy trên con đường đầy ổ gà, né cái này, đè cái kia. Sóng lớn tới thì quay mũi ghe đón nó, cho nó đánh vô mũi chớ không đánh ngang hông. Hết con sóng thì bẻ lái trả lại hướng cũ. Mỗi lần như vậy mất vài chục thước. Hai tiếng đường ngày thường thành gần ba tiếng.

Ba giờ năm mươi, tui báo vị trí cho đồn qua bộ đàm. Anh thượng úy nhắc lại con số, nói tàu của đồn đã kéo được chiếc ghe phía bắc vô bờ, đang quay qua, chậm nhứt bảy giờ tối tới hòn Chà Là. Ảnh hỏi tui ghe có vô nước không. Tui nói có, mà máy bơm còn chạy kịp.

Thằng Cò bơm tay dưới khoang, lâu lâu ngóc đầu lên, mặt ướt nhẹp.

– Chú Dảnh.

– Gì?

– Ổng nói chú đạp ổng. Ổng nói chú lột đồng hồ ổng. Cả làng chửi chú năm ngày. Bây giờ chú đi cứu ổng.

– Tao đi cứu thằng Trung. – Tui nói. – Với thằng Phúc. Với thằng bạn ghe nữa của vựa.

– Còn ổng?

Tui bẻ lái, đón một con sóng. Ghe chồm lên, rơi xuống, cái khoang dưới chân thằng Cò vang lên một tiếng rầm.

– Hai mươi tám năm trước tao kéo ổng lên một cái bãi đá. – Tui nói. – Bây giờ ổng ở dưới nước thì tao kéo ổng lên lần nữa. Chuyện người với người thì để trên bờ tính.

Thằng Cò nhìn tui một hồi. Rồi nó cúi xuống bơm tiếp.

Tui không nói với nó hết. Tui không nói là trong lúc cầm bánh lái giữa biển xám, tui nghĩ tới chị Ngọt. Tui nghĩ nếu bả còn sống, bả đứng trên kè, bả sẽ nói gì với tui. Tui nghĩ bả sẽ không nói gì hết. Bả sẽ đứng đó, như hồi tui mười chín tuổi đứng giữa sân đình, và nhìn tui. Cái nhìn đó tới bây giờ tui mới hiểu: cái nhìn của người biết mình đang bị nói dối, mà chưa có cách nào khác ngoài đứng yên mà nghe.

Bả đứng yên hai mươi lăm năm. Tui đứng yên năm ngày, đã thấy dài.

Năm giờ rưỡi, trời đã nhá nhem, hòn Chà Là mới hiện ra trước mũi ghe, một khối đen thui trồi lên giữa màn mưa, sóng đập vô chân hòn trắng xóa cao cả chục thước. Tui biết hòn này như biết cái sân nhà. Mé ngoài, phía đông, là dải đá ngầm chạy dài chừng ba trăm thước, nước ròng thì lòi lên như hàm răng, nước lớn thì chìm dưới mặt sóng, ghe nào lạc vô đó là bể. Mé trong, phía tây, là cái vịnh nhỏ khuất gió với bãi đá cuội, chỗ hai mươi tám năm trước tui kéo anh Tư Giáp lên.

Bây giờ là con nước lớn. Dải đá ngầm đang chìm.

Năm giờ bốn mươi, lúc ghe tui vừa vòng qua mũi bắc của hòn, bộ đàm kênh của vựa thằng Trung bất ngờ rè lên. Một giọng đứt quãng, khàn đặc, lẫn trong tiếng gió:

– ...ai nghe không... đá... neo trượt... ghe đang dạt vô...

Giọng ông Tư Giáp.

Rồi im.

— Hết chương 7 —

Mục lục Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

  1. 1Người quỳ trước bàn thờ9 phút đọc
  2. 2Mày im thì tao im10 phút đọc
  3. 3Cây cột gỗ dầu9 phút đọc
  4. 4Đêm Mậu Dần theo lời ông Tư Giáp9 phút đọc
  5. 5Bảy ngày9 phút đọc
  6. 6Điều má tụi nhỏ biết10 phút đọc
  7. 7Loa biên phòng9 phút đọc
  8. 8Nút thòng lọng ghe9 phút đọc
  9. 9Lời khai trong cabin9 phút đọc
  10. 10Cái đồng hồ9 phút đọc
  11. 11Vạch Tết trên cây cột10 phút đọc

Về truyện này

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →