AI Truyện
Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

🏠 Gia đình & vả mặt

Vạch Tết trên cây cột

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần · Chương 11/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Vạch Tết trên cây cột

Sáng hôm sau, tui sơn lại hai con mắt ghe. Trời trong, biển xanh như chưa từng có bão.

Tấm ván sơn bữa trước tui bỏ, sơn thẳng lên gỗ mũi ghe, hai lớp, như thằng Năm Mập dặn. Lớp trắng làm tròng, lớp đen làm con ngươi, viền một đường đỏ quanh mi, theo kiểu người làng Bãi Lở vẽ mắt ghe từ đời ông cố. Thằng Cò đứng dưới bến cầm hộp sơn, chỉ chỗ này lệch, chỗ kia chưa đều. Con mắt bên phải tui vẽ hơi xếch, nhìn như con ghe đang nheo mắt cười. Tui không sửa.

Ông Tư Giáp nằm trạm y tế mười ngày, rồi chuyển lên bệnh viện tỉnh nằm thêm hai tuần. Thằng Trung lo hết. Ra viện, ổng về ở cái phòng trọ đầu bến, cạnh quán hủ tiếu bà Bảy. Phòng nhỏ, có cái giường sắt, cái quạt máy, cái cửa sổ nhìn ra bãi ghe. Sáng nào ổng cũng ngồi ở cửa sổ đó, nhìn ghe về.

Anh Phong ở xã chỉ cho thằng Trung làm đơn gửi tòa xin hủy cái quyết định năm hai ngàn. Thằng Trung chở ổng lên tòa hai lần. Người ta nói phải chờ. Ổng nói ổng chờ được. Hai mươi tám năm ổng còn chờ được, mấy tháng có nhằm nhò gì.

Tui không tới thăm ổng. Mà chiều nào đi biển về, tui cũng để thằng Cò mang qua phòng trọ một bịch cá. Cá nục, cá bạc má, có bữa mấy con mực ống. Thằng Cò về kể, ổng không nói gì, ổng chỉ lấy bịch cá, gật đầu, rồi bỏ vô cái tủ lạnh nhỏ bà Bảy cho mượn.

Có một bữa, thằng Cò mang cá qua về, đưa cho tui một gói giấy báo.

– Ông Tư gửi chú.

Trong gói giấy báo là một con dao rọc lưới cũ, cán bằng sừng, lưỡi mòn vẹt. Con dao của ổng hồi xưa. Cái con dao mà năm tui mười lăm tuổi, lần đầu xuống ghe ổng, ổng đưa tui cầm, dạy tui rọc lưới. Đêm bão năm Mậu Dần nó rớt xuống biển, tui tưởng vậy. Hóa ra ổng giắt nó trong lưng quần, mang theo lên chiếc ghe xanh, mang qua bên kia, giữ hai mươi tám năm.

Không có chữ nào kèm theo. Tui cũng không cần chữ.

Tháng Chạp, con Nhiên về sớm hơn mọi năm. Nó về với chồng nó và con bé Sa, con gái nó, sáu tuổi, cái mặt tròn như trái quýt. Chồng nó là một anh kỹ sư người Bắc, hiền, ít nói, mới lần đầu xuống Bãi Lở. Ảnh đứng trước cây cột gỗ dầu ngoài hiên, rờ rờ mấy vạch khắc, hỏi con Nhiên cái gì vậy. Con Nhiên chỉ cái vạch N 8, nói: đây là em hồi tám tuổi. Rồi nó chỉ vạch N 12. Rồi nó chỉ lên tuốt trên, chỗ trống trơn trên thân cột, nói: còn đây là chỗ không có ai khắc nữa.

Hai mươi tám Tết, con Nhiên rủ tui ra mộ má nó. Nghĩa địa làng nằm trên đồi cát sau xóm, mộ má tụi nhỏ còn mới, chưa xây, chỉ có cái mu đất đắp cao với tấm bia xi măng tạm. Hai dượng con nhổ cỏ, quét lá dương, cắm nhang. Gió biển thổi lên đồi, cát bay lăn tăn trên mặt mộ.

Con Nhiên ngồi xổm trước tấm bia, nhìn tên má nó.

– Hồi tháng Chín con giận má lắm, dượng. – Nó nói. – Con nghĩ má lừa tụi con hai mươi mấy năm. Con nghĩ má ích kỷ, để dượng chịu một mình.

Tui không nói gì. Tui cắm thêm mấy cây nhang vô bát.

– Rồi con về Sài Gòn, con nằm nghĩ. – Nó nói tiếp. – Con nghĩ, nếu năm con bảy tuổi mà má nói với con là ba con bỏ đi, ba con còn sống bên kia, ba con không thèm gửi về một chữ, thì con lớn lên ra sao. Con nghĩ hoài mà không ra. Con chỉ biết là con lớn lên được như bây giờ. Có ba chết biển để thương. Có dượng để... – Nó ngưng lại, rồi cười, cái cười nghẹn. – Có dượng để giận.

– Giận cũng được. – Tui nói.

– Dượng không giận má hả?

Tui nhìn tấm bia. Tên bả viết bằng sơn đen, nét chữ của thằng thợ đá trong làng, hơi xiêu.

– Dượng thề với má con mà không ai ép. – Tui nói. – Dượng giận ai được.

Con Nhiên đưa tay phủi cát trên mặt bia. Nó không nói gì thêm. Hai dượng con ngồi đó tới khi nhang tàn.

Hai mươi chín Tết, thằng Trung với con Kiều dẫn thằng Tôm xuống. Thằng Tôm đã có giấy nhập học bên Úc, sang tháng Bảy đi. Thằng Trung lo tiền học cho nó bằng tiền của vựa, vay thêm ngân hàng một khoản, không đụng tới căn nhà. Nó nói với tui chuyện đó trong lúc hai dượng con ngồi lau lư đồng trên bàn thờ, nói như nói chuyện thời tiết. Tui gật đầu. Tui không hỏi thêm.

Cái đồng hồ dây kim loại mặt đen vẫn nằm trên bàn thờ, dưới tấm hình má tụi nhỏ. Kim vẫn đứng ở bốn giờ hai mươi. Thằng Trung có hỏi tui có muốn đem đi thay pin không. Tui nói thôi. Để nó đứng đó.

Chiều ba mươi, tui nấu một nồi cá thu kho tộ, kho với tiêu xanh, kiểu má tụi nhỏ hay kho. Tui múc ra một cái cà mên, xách qua phòng trọ đầu bến.

Lần đầu tiên tui gõ cửa phòng ông Tư Giáp.

Ổng mở cửa. Ổng mặc cái áo sơ mi màu cát hôm đầu ổng về, đã giặt sạch, ủi thẳng. Ổng ốm hơn hồi tháng Chín, mà da bớt tái. Ổng nhìn tui, nhìn cái cà mên trên tay tui.

– Cá thu kho. – Tui nói. – Kho tiêu xanh.

Ổng nhận cái cà mên. Ổng mở nắp, cúi xuống ngửi. Ổng đứng ngửi lâu lắm.

– Bả kho vầy. – Ổng nói.

– Dạ. Chỉ dạy tui.

Ổng đậy nắp lại. Ổng không mời tui vô, tui cũng không vô. Hai đứa đứng ở cửa phòng trọ, ổng bên trong, tui bên ngoài, nhìn ra bãi ghe đang treo đèn lồng đỏ trên cột buồm, chiếc nào cũng cắm một nhành mai.

– Mai mùng một. – Ông Tư Giáp nói. – Tụi nhỏ có về đủ không?

– Đủ.

– Thằng Tôm có về không?

– Có.

Ổng gật đầu. Ổng đứng im một lúc.

– Dảnh. – Ổng nói. – Cái cột gỗ dầu đó. Mày đừng thay.

– Tui không thay.

– Ừ.

Tui quay về. Đi được mấy bước, ổng gọi lại.

– Năm Mậu Dần, trên hòn Chà Là. – Ổng nói. – Lúc mày chèo cái thúng đưa tao ra ghe xanh, tao không quay lại nhìn mày. Mày biết vì sao hông?

– Dạ không.

– Tao sợ quay lại thì tao không đi được.

Ổng đóng cửa phòng.

Sáng mùng một, nhà đông nhứt từ bữa bốn chín ngày của má tụi nhỏ. Thằng Trung, con Kiều, thằng Tôm. Con Nhiên, chồng nó, con bé Sa. Chú Chín Đen chống gậy qua xông đất, mặc cái áo dài the đen đã ngả màu nâu, nói năm nay chú bảy mươi sáu, xông đất nhà này là đất cứng. Thằng Cò theo sau ba nó, xách một chục trứng vịt. Ông Sáu Bảnh với bà Tư Cận ghé qua lúc gần trưa, ngồi uống một ly trà rồi đi.

Thắp nhang xong, thằng Trung đi ra hiên. Nó đứng trước cây cột gỗ dầu, ngoắc thằng Tôm.

– Tôm. Lại đây.

Thằng Tôm lại. Thằng Trung đẩy nó đứng dựa lưng vô cây cột, ngay chỗ có mấy cái vạch khắc cũ. Thằng nhỏ mười lăm tuổi đứng thẳng, đầu nó vượt qua vạch T 17 của ba nó một chút.

Thằng Trung quay lại nhìn tui.

– Dượng. – Nó nói. – Dượng khắc cho thằng Tôm.

Cả nhà đứng ngoài hiên im lặng. Con Nhiên đứng ở cửa, một tay nắm tay con bé Sa. Con Kiều đứng sau lưng chồng.

Tui đi vô nhà sau, lấy con dao rọc lưới cán sừng ông Tư Giáp gửi qua. Tui đi ra, đứng trước thằng Tôm. Tui đặt bàn tay trái lên đỉnh đầu nó, ép tóc nó xuống, tay phải cầm dao khắc một vạch ngang lên thân cột, ngay dưới lòng bàn tay mình. Gỗ dầu cứng, lưỡi dao mòn, tui phải miết ba lần mới ăn.

Kế bên cái vạch, tui khắc một chữ T nhỏ, với con số 15.

– Ông Dảnh. – Thằng Tôm hỏi, giọng lí nhí. – Con cũng chữ T hả?

– Ba con chữ T, con cũng chữ T. – Tui nói. – Ba con đứng đây hồi mười ba tuổi.

Con bé Sa giựt tay má nó, chạy ra, đứng dựa vô cây cột, chỗ dưới thấp.

– Ông ơi, con nữa! Con nữa!

Tui khắc cho con bé một vạch, thấp hơn vạch N 8 của má nó một chút. Chữ S, số 6. Con bé quay lại nhìn cái vạch, nhảy cẫng lên, chạy vô khoe ba nó.

Thằng Trung đứng nhìn mấy cái vạch mới. Rồi nó làm một việc tui không ngờ.

Nó bước tới, quay lưng lại, đứng dựa vô cây cột. Bốn chục tuổi, cao hơn tui nửa cái đầu, nó đứng thẳng lưng như thằng nhỏ mười ba tuổi năm chín chín.

– Dượng khắc con luôn. – Nó nói.

Tui nhìn nó. Con Kiều đưa tay lên che miệng. Con Nhiên đứng ở cửa, mắt đỏ.

Tui phải nhón chân mới đặt được bàn tay lên đỉnh đầu nó. Tóc nó cứng, đã lốm đốm bạc ở hai bên thái dương. Tui khắc một vạch ngang, cao hơn mọi vạch trên thân cột, cao hơn cả cái vạch nó bỏ dở năm mười tám tuổi. Kế bên, tui khắc chữ T, với con số 40.

Thằng Trung bước ra khỏi cây cột, quay lại nhìn. Cái vạch số 17 với cái vạch số 40 cách nhau chừng một gang tay. Hai mươi ba năm, mà chỉ một gang tay.

Nó cầm lấy con dao rọc lưới trong tay tui. Nó nhìn con dao, nhìn cái cán sừng mòn bóng. Nó không hỏi con dao của ai. Nó bước tới cây cột, cúi xuống. Ở chỗ thấp nhứt trên thân cột, dưới vạch N 8 của em nó, dưới cả vạch S 6 của con bé Sa, nó khắc mấy chữ, chậm, nắn nót, như đứa học trò tập viết.

"Dượng Dảnh khắc."

Nó đưa trả con dao cho tui. Nó không nói gì. Nó đi vô nhà, đi thẳng tới bàn thờ, đứng trước tấm hình má nó, đứng như vậy rất lâu.

Chiều mùng một, tui ra bến.

Ghe tui nằm đó, giữa hàng ghe treo đèn lồng đỏ, cột buồm cắm nhành mai, hai con mắt mới sơn sáng trưng dưới nắng xuân. Con mắt bên phải vẫn hơi xếch, nhìn như con ghe đang nheo mắt cười.

Ở đầu bến, cửa sổ phòng trọ cạnh quán hủ tiếu bà Bảy mở toang. Một cái bóng ốm nhom ngồi trong đó, quay mặt ra biển. Tui không biết ổng có thấy tui không. Tui đứng trên mũi ghe một lúc, giữa hai con mắt, rồi tui đưa tay lên, vẫy một cái.

Cái bóng trong cửa sổ không vẫy lại. Mà cũng không quay đi.

— Hết —

Mục lục Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

  1. 1Người quỳ trước bàn thờ9 phút đọc
  2. 2Mày im thì tao im10 phút đọc
  3. 3Cây cột gỗ dầu9 phút đọc
  4. 4Đêm Mậu Dần theo lời ông Tư Giáp9 phút đọc
  5. 5Bảy ngày9 phút đọc
  6. 6Điều má tụi nhỏ biết10 phút đọc
  7. 7Loa biên phòng9 phút đọc
  8. 8Nút thòng lọng ghe9 phút đọc
  9. 9Lời khai trong cabin9 phút đọc
  10. 10Cái đồng hồ9 phút đọc
  11. 11Vạch Tết trên cây cột10 phút đọc

Về truyện này

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →