Chương 3: Cây cột gỗ dầu
Ba ngày sau, cả làng Bãi Lở đã thuộc chuyện ông Tư Giáp trôi dạt như thuộc bài hát.
Chợ cá năm giờ sáng, mấy bà ngồi lựa cá nục, cá bạc má, vừa lựa vừa kể. Ổng bám cái thùng nhựa ba ngày. Ổng uống nước mưa. Ổng mất trí hai chục năm. Ổng nằm mơ thấy cây dừa cong đầu ngõ. Mỗi người kể thêm một chút, người sau kể dài hơn người trước. Tới ngày thứ ba thì ổng đã trôi năm ngày, đã bị cá mập lượn quanh, đã được một chiếc tàu lớn có cờ đỏ trắng vớt lên giữa đêm trăng.
Tui đi chợ mua mấy ký đá cho ghe, nghe hết. Không ai hỏi tui. Mà ai cũng liếc tui.
Ông Tư Giáp ngồi ngoài hiên cả ngày. Thằng Trung mua cho ổng cái ghế xếp bằng nhôm, có cái gối dựa, đặt ngay dưới cây cột gỗ dầu. Ổng ngồi đó uống trà, hút thuốc, ai đi ngang cũng ghé vô chào. Thằng Tôm nghỉ học ba bữa ở nhà với ông nội, ngồi dưới chân ổng nghe kể chuyện tàu bè bên Mã Lai. Thằng nhỏ mười lăm tuổi chưa từng có ông nội. Ba thằng Trung là ông Tư Giáp, mà ông Tư Giáp thì chết trước khi thằng Trung lấy vợ. Còn ông dượng ở nhà sau thì nó kêu là "ông Dảnh", kêu cho có.
Tui đi biển. Đêm thứ hai sau bốn chín ngày, tui với thằng Cò ra khơi câu mực, sáng về. Đêm thứ ba đi tiếp. Ở nhà không có việc gì cho tui làm. Ở ngoài biển thì có.
Đêm đó trời êm. Ghe tui thả neo cách bờ chừng hai tiếng chạy, bật dàn đèn câu, ánh đèn trắng xanh rọi xuống mặt nước, mực kéo lên từng bầy. Thằng Cò ngồi mũi ghe giật cần, tay nó lẹ như tay thợ may. Mười giờ, tui cầm cái máy bộ đàm, gọi một lượt.
– Ghe Sáu Bảnh đâu, nghe hông?
– Nghe nè anh Dảnh. Êm.
– Ghe thằng Tèo?
– Êm anh. Mực lên khá.
– Ghe Út Hên? Ghe bà Tư Cận?
Bốn chiếc trả lời đủ. Chiếc thứ năm là chiếc của chú Chín Đen, chú già rồi không đi đêm nữa, cho thằng cháu chạy. Thằng cháu trả lời trễ, giọng ngái ngủ. Tui la nó một câu, nó tỉnh.
Gọi xong, tui ngồi xuống boong, châm thuốc. Thằng Cò bỏ cần, lại ngồi kế tui.
– Chú Dảnh. – Nó nói. – Hồi chiều ba con nói một chuyện.
– Chuyện gì?
– Ba con nói hồi đó ông Tư Giáp nợ dữ lắm. Nợ tiền máy ghe, nợ hụi, nợ tiền mượn của mấy ông bên Phan Thiết. Ba con nói mấy ông đó tới nhà đòi, đập cửa. Ba con nói trước bão chừng một tháng, ông Tư Giáp nói với ba con là ổng muốn bỏ hết mà đi.
Tui hút thuốc, không nói gì.
– Ba con nói vậy thôi. – Thằng Cò nói. – Ba con biểu con đừng nói với ai.
– Thì mày đừng nói với ai.
– Con nói với chú thôi. – Nó nhìn tui. – Chú đi chung ghe với ổng đêm đó. Chú biết hơn ai hết.
Tui đứng dậy, đi ra lái, coi lại sợi dây neo. Sợi dây căng, nước chảy êm. Mực trong thùng còn quẫy, phun mực đen ra cả tay thằng Cò.
– Mày coi đèn đi. – Tui nói. – Đèn bên trái chập chờn kìa.
Thằng Cò đi coi đèn. Nó không hỏi nữa. Thằng nhỏ đi ghe với tui mười năm, nó biết lúc nào tui không muốn trả lời, thì tui sai nó đi làm việc khác.
Ngoài biển, tui là tổ trưởng tổ đoàn kết của năm chiếc ghe câu trong xóm. Cái chức đó không có lương, không có bằng khen gì lớn. Chỉ có một cái máy bộ đàm, với cái trách nhiệm đêm nào cũng phải gọi năm chiếc ghe một lượt, coi chiếc nào còn, chiếc nào trôi xa, chiếc nào máy hư. Hai chục năm nay, đêm nào trời trở gió, mấy ông chủ ghe trong xóm cũng gọi tui trước khi gọi đồn biên phòng. Không phải vì tui giỏi hơn biên phòng. Vì tui gần hơn, và vì tui biết từng bãi đá, từng con nước quanh hòn Chà Là, cái hòn đảo đá trơ trọi ngoài khơi, nơi ghe nào mắc gió cũng chạy vô núp. Ghe máy khỏe ra tới đó mất chừng hai tiếng, ghe máy yếu thì ba tiếng.
Năm hai ngàn mười hai, tui kéo chiếc ghe của ông Sáu Bảnh vô núp bên khuất gió hòn Chà Là lúc ba giờ sáng, máy ghe ổng chết, sóng cấp bảy. Năm hai ngàn mười tám, tui với thằng Cò lội xuống nước kéo hai đứa bạn ghe của thằng Tèo lên ghe tui, lúc chiếc thúng chai của tụi nó lật. Cả làng biết mấy chuyện đó. Chỉ là bây giờ, cả làng đang bận nghe một chuyện khác.
Sáng thứ tư, tui đi biển về, thấy ông Tư Giáp đứng dưới cây cột gỗ dầu, cúi xuống nhìn mấy vạch dao khắc trên thân cột.
Mấy vạch đó tui khắc từ Tết năm chín chín. Năm đó cái chòi tôn của mẹ con má tụi nhỏ chỉ có một cây cột cái là cây gỗ dầu này, tui đi xin ở một nhà làm ghe trong vịnh, vác về dựng giùm. Tết năm đó, con Nhiên tám tuổi, đứng dựa vô cột, hỏi con cao chưa dượng. Tui lấy con dao rọc lưới khắc một vạch ngang đầu nó, khắc thêm chữ N với số 8. Thằng Trung mười ba tuổi đứng ngoài sân coi, không chịu lại. Con Nhiên lôi tay anh nó. Nó lại. Tui khắc chữ T, số 13.
Năm năm như vậy. Tết nào cũng khắc. Tới Tết năm hai ngàn lẻ bốn, thằng Trung mười tám tuổi, nó nói con lớn rồi, đo chi nữa. Từ đó không khắc nữa. Vạch trên cùng của con Nhiên ghi số 12. Vạch trên cùng của thằng Trung ghi số 17.
Ông Tư Giáp lấy ngón tay lần theo từng vạch.
– Ai khắc mấy cái này? – Ổng hỏi thằng Tôm.
– Ông Dảnh khắc. – Thằng Tôm nói. – Ba con nói hồi nhỏ ông Dảnh đo ba con với cô Út.
Ông Tư Giáp đứng thẳng lên. Ổng nhìn thấy tui đứng ngoài ngõ, hai tay xách giỏ mực. Ổng quay vô nhà, kêu:
– Trung. Cây cột này mục rồi. Mai kêu thợ thay cột sắt đi con. Để vầy có ngày sập mái.
Thằng Trung bước ra, đẩy đẩy cây cột. Cây cột không nhúc nhích. Gỗ dầu ngâm nước biển trước khi dựng, hai mươi bảy năm rồi vẫn chắc như đá.
– Con thấy cũng còn chắc mà ba.
– Chắc gì. Gỗ cũ rồi. – Ông Tư Giáp nói. – Nhà mình bây giờ con làm chủ, con muốn để cái cột mục chình ình trước hiên thì để.
Thằng Trung nhìn ba nó, rồi nhìn tui.
– Dượng. Mai con kêu thợ.
– Cột đó không mục đâu con. – Tui nói. – Để dượng đẽo lớp ngoài, quét dầu lại.
– Dượng đừng lo chuyện nhà con.
Tui xách giỏ mực ra nhà sau. Sau lưng, tui nghe thằng Tôm hỏi: "Ông nội ơi, sao ông muốn chặt cây cột?" Ông Tư Giáp không trả lời nó.
Chiều thứ năm, thằng Trung kêu cả nhà họp.
Họp ở nhà trên, quanh cái bàn ăn. Ông Tư Giáp ngồi đầu bàn. Thằng Trung với con Kiều ngồi một bên. Con Út Nhiên ngồi bên kia, nó xin nghỉ phép một tuần, còn hai ngày nữa là phải về Sài Gòn. Thằng Tôm bị đuổi ra ngoài. Tui đứng ở cửa, không ai mời ngồi, tui cũng không ngồi.
Thằng Trung lấy ra một tờ giấy in sẵn mấy con số.
– Con nói luôn cho gọn. – Nó nói. – Nhà mình mặt đường xuống bến, đất ngang mười hai thước, dài bốn chục thước. Bên công ty làm khu nghỉ dưỡng ở đầu bãi người ta hỏi mua lâu rồi, má không chịu bán. Giờ ba về, ba ở đây một mình thì buồn, xa nhà thương. Con tính bán chỗ này, mua cho ba một căn nhà nhỏ trên Phan Thiết gần nhà con, con với Kiều tiện chăm. Phần còn lại chia cho con với Út. Phần con, con lo cho thằng Tôm đi học.
Con Nhiên nhìn tờ giấy, không nói gì.
– Còn dượng. – Thằng Trung nói, không nhìn tui. – Con biết dượng có công với má. Con cho dượng một số tiền. Dượng về quê dượng, hoặc dượng muốn mướn nhà ở đâu thì tùy.
Quê tui ở đâu? Tui mồ côi từ năm mười tuổi ở Phan Rí, mười lăm tuổi theo ghe người ta xuống Bãi Lở làm bạn ghe, ở luôn từ đó. Ba mươi hai năm tui sống ở làng này. Thằng Trung biết vậy. Nó biết mà nó vẫn nói "về quê dượng".
– Dượng có giấy tờ gì hông dượng? – Con Kiều hỏi, giọng ngọt như đường phèn. – Con hỏi để tính cho đúng, chớ hông phải con có ý gì.
– Giấy tờ thì má tụi bây cất. – Tui nói.
– Vậy là hông có. – Con Kiều nói.
– Nhà này má với dượng cất. – Con Nhiên nói, lần đầu tiên mở miệng. – Anh Hai. Năm hai ngàn lẻ sáu, anh đi học trên Sài Gòn, anh đâu có ở nhà. Em ở nhà. Em thấy dượng đi ghe sáu năm liền không nghỉ Tết để trả tiền gạch.
– Tiền gạch là tiền má bán cá. – Thằng Trung nói.
– Má bán cá được bao nhiêu mà cất nổi cái nhà gạch?
– Út. – Ông Tư Giáp lên tiếng.
Con Nhiên ngưng ngang. Từ nhỏ tới lớn, ít ai kêu nó là Út bằng cái giọng đó. Tui kêu nó là con. Má nó kêu nó là Nhiên. Chỉ có người đàn ông này, hai mươi tám năm trước, cõng nó trên vai ra bến coi ghe về, là kêu nó là Út.
Cả bàn im.
Ổng đặt hai tay lên bàn, mười ngón tay đen sạm, khớp tay to như mắt tre. Ổng nhìn con Nhiên, rồi nhìn thằng Trung, rồi từ từ quay đầu, nhìn ra cửa, nhìn tui.
– Ba không muốn nói chuyện này. – Ổng nói. – Ba về đây là để thắp nhang cho má tụi bây, để nhìn mặt tụi bây, chớ không phải để giành nhà giành đất. Mà tụi bây cứ nói tới công lao, công lao. Vậy thì ba hỏi tụi bây một câu.
Ổng ngưng lại. Ổng ho, một tràng dài, khàn, như tiếng máy ghe nghẹt nhớt. Thằng Trung rót cho ổng ly nước. Ổng uống một hớp, đặt ly xuống.
– Tụi bây có biết đêm bão năm đó, ai bỏ ba trôi ngoài biển không?
Ổng không chỉ tay. Ổng không cần chỉ tay. Ổng chỉ nhìn tui, nhìn hoài, không chớp, cho tới khi thằng Trung, con Kiều, rồi con Nhiên, từng người một, quay đầu lại nhìn theo.
— Hết chương 3 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe