Chương 6: Điều má tụi nhỏ biết
Tới đây thì tui phải kể. Tui đã nói từ từ tui kể, mà để lâu quá thì người nghe tưởng tui giấu luôn cả với họ.
Đêm bão tháng Mười năm Mậu Dần, ghe anh Tư Giáp lật lúc một giờ sáng, đúng như ổng kể. Bánh lái gãy lúc mười một giờ, cũng đúng như ổng kể. Chỉ có cái phao là sai.
Trên ghe không có cái phao tròn bằng xốp nào hết. Ghe nghèo hồi đó, có cái phao là xa xỉ. Thứ cứu hai đứa tui là cái thúng chai buộc ngược trên nóc cabin, cái thúng anh Tư dùng để chèo vô bờ những bữa ghe đậu xa. Ghe lật, cái thúng văng ra, úp ngửa trên mặt nước như cái nón ai đánh rơi. Tui bơi tới nó trước. Tui níu nó, rồi tui quay lại kiếm anh Tư.
Ổng đập đầu vô mạn ghe thật, máu chảy xuống mặt, đen thui trong bóng tối. Ổng chới với cách tui chừng chục sải. Tui bơi ra, nắm cổ áo ổng, kéo về cái thúng. Ổng nặng như bao gạo ướt. Tui mười chín tuổi, sức trâu thật, mà đêm đó tui tưởng tui chết hai lần. Lần thứ nhứt lúc một con sóng chụp xuống đầu cả hai đứa. Lần thứ hai lúc anh Tư hoảng, ổng níu đầu tui dìm xuống nước để ổng ngoi lên. Người sắp chết đuối ai cũng vậy, tui không trách.
Hai đứa tui bám cái thúng chai trôi tới gần sáng. Trời hửng thì thấy hòn Chà Là đen thui phía trước. Gió đẩy tụi tui vô phía khuất gió, vô cái bãi đá cuội nhỏ xíu ở chân hòn, chỗ ghe nào mắc bão cũng chạy vô núp. Tui kéo anh Tư lên bãi đá, cởi áo tui ra quấn cái đầu cho ổng. Ổng nằm thở, mắt mở trừng trừng nhìn trời.
Trưa hôm đó mưa tạnh. Biển còn động, mà gió đã nhẹ. Hai đứa tui ngồi dưới một hốc đá, đói, khát, liếm nước mưa đọng trên đá. Tui nói với anh Tư, chiều nay hay sáng mai thế nào ban cứu hộ cũng ra, ghe trong làng cũng ra kiếm. Anh Tư không trả lời. Ổng ngồi nhìn biển.
Gần chiều, có một chiếc ghe máy lớn chạy ngang ngoài xa, phía nam. Không phải ghe làng mình. Ghe sơn màu xanh dương, không có mắt, chở hàng gì đó phủ bạt kín. Tui đứng dậy, cởi cái áo quấn đầu anh Tư ra quơ. Anh Tư nắm tay tui kéo xuống.
– Đừng.
– Sao đừng anh? Ghe người ta tới cứu mình.
– Ghe đó không phải ghe cứu ai. – Anh Tư nói. – Ghe đó chạy hàng đi xuống phía nam, qua bên kia. Tao biết ghe đó.
Tui không hiểu. Anh Tư đứng dậy, nhìn chiếc ghe xanh, nhìn lâu lắm. Rồi ổng nói một câu mà hai mươi tám năm nay tui còn nghe y nguyên trong tai.
– Dảnh. Mày cho tao đi.
Ổng kể tui nghe chuyện nợ. Nợ tiền máy ghe mua trả góp, nợ ba dây hụi ổng hốt rồi không đóng, nợ mấy ông bên Phan Thiết cho vay lãi ngày. Mấy ông đó đã tới đập cửa nhà ổng hai lần, lần thứ hai họ nói nếu tới Tết không trả, họ sẽ tới lúc ổng đi biển, gặp vợ con ổng ở nhà. Ổng nói ổng nghĩ tới chuyện bỏ đi cả tháng nay rồi, mà không dám. Ổng nói đêm qua ghe lật, ổng nằm trên bãi đá này, ổng nghĩ: hay là ông trời cho mình chết một lần.
– Tao chết thì nợ chết theo. – Ổng nói. – Tụi nó không đòi vợ con một thằng chết biển. Người làng còn thương, còn giúp. Tao sống thì tao kéo mẹ con nó chết chung với tao.
– Anh đi đâu?
– Qua bên kia. Tao có người quen trên chiếc ghe đó. Tao làm vài năm, kiếm tiền, tao gửi về. Trả nợ xong tao về.
Tui mười chín tuổi. Tui mồ côi, tui theo ghe anh Tư từ năm mười lăm, anh Tư cho tui ăn, cho tui ngủ, dạy tui cầm bánh lái. Chị Ngọt nấu cơm cho tui ăn chung mâm với thằng Trung, con Nhiên. Anh Tư nói gì tui cũng tin.
Ổng tháo cái đồng hồ trên tay, cái đồng hồ dây kim loại mặt đen, nhét vô tay tui.
– Mày giữ cái này. Lúc nào tao gửi tiền về được, mày đưa cho chị Ngọt, nói tao còn sống. Còn bây giờ, mày nói tao chết. Mày nói mày níu tao không được. Mày thề với tao đi.
Tui thề.
Rồi tui chèo cái thúng chai, chở anh Tư ra giữa biển, ra chỗ chiếc ghe xanh. Ổng đứng lên, quơ tay kêu. Chiếc ghe chạy chậm lại. Có người trên ghe thò đầu ra, nói gì đó với ổng, ổng nói lại, hai bên nói qua nói lại mấy câu, rồi người ta thả xuống một cái thang dây. Ổng leo lên. Ổng không quay lại nhìn tui. Chiếc ghe xanh nổ máy chạy tiếp về phía nam, nhỏ dần, nhỏ dần, cho tới khi chỉ còn một cái chấm trên đường chân trời.
Tui chèo cái thúng về lại hòn Chà Là. Sáng hôm sau, ghe cứu hộ ra, vớt tui về. Tui đứng giữa sân đình, trước cả làng, trước chị Ngọt ôm thằng Trung với con Nhiên, nói anh Tư trôi mất, tui níu ổng không được.
Chị Ngọt không khóc. Chị đứng đó, nhìn tui, mặt trắng bệch. Rồi chị nói, "Dảnh ơi, em về được là tốt rồi," và chị quay đi, dắt hai đứa nhỏ về.
Tui đã nói dối như vậy đó.
Anh Tư không gửi tiền về. Một năm. Hai năm. Không một đồng, không một chữ. Mấy ông chủ nợ tới nhà chị Ngọt một lần, thấy cái chòi tôn với hai đứa nhỏ, thấy chị đi bán cá về chân còn dính bùn, họ đứng một lúc rồi đi, không đòi nữa. Anh Tư nói đúng chỗ đó. Người ta không đòi nợ vợ con một thằng chết biển.
Tui thì không đi đâu hết. Tui làm bạn ghe cho người khác, tiền công tui chia đôi, một nửa tui đưa chị Ngọt, nói là tiền anh em trong làng góp. Tui dựng cho chị cây cột gỗ dầu. Tui sửa mái chòi mỗi mùa mưa. Tui dạy thằng Trung cột nút, dạy con Nhiên lội. Tết tui khắc vạch lên cây cột. Tui không biết tui làm vậy vì tui thương chị Ngọt, hay vì tui mắc nợ chị. Hồi đó tui không phân biệt được. Bây giờ thì tui biết, mà biết thì cũng đã muộn rồi.
Năm hai ngàn, chị Ngọt làm đơn ra tòa. Người ta hỏi tui, tui khai lại y câu cũ. Tòa ra quyết định.
Năm hai ngàn lẻ một, tháng Bảy, chị Ngọt nói với tui: "Dảnh. Chị biết em thương chị. Chị cũng thương em. Mà chị lớn hơn em mười bốn tuổi, chị có hai đứa con. Em suy nghĩ cho kỹ." Đêm đó tui không ngủ. Gần sáng, tui lấy cái đồng hồ trong rương ra, đi qua chòi của chị.
Tui kể hết.
Chị ngồi trên cái chõng tre, nghe từ đầu tới cuối, không ngắt lời một câu. Tui kể xong, chị đứng dậy, tát tui một cái. Cái tát đó tui nhớ hơn mọi cơn sóng tui từng gặp. Rồi chị ngồi xuống lại, cầm cái đồng hồ, ngồi im cho tới sáng.
Gà gáy lần hai, chị nói:
– Dảnh. Em thề với chị.
– Dạ.
– Tụi nhỏ có một người cha chết ngoài biển. – Chị nói. – Em đừng bao giờ cho tụi nó có một người cha bỏ đi. Chết biển thì tụi nó còn thương được. Bỏ đi thì tụi nó lớn lên không biết mình là con ai. Em thề với chị, suốt đời này em không nói với tụi nó.
Tui thề.
Năm sau, chị lấy tui. Đám cưới chỉ có hai mâm, chú Chín Đen đứng làm chủ hôn. Thằng Trung mười sáu tuổi không chịu ra chào khách. Con Nhiên mười một tuổi ngồi kế tui, ăn hết dĩa gỏi cá.
Hai mươi bốn năm, chị không nhắc lại chuyện đó lần nào. Có năm thằng Bảy Lực con bà Hai Xoài về nói thấy ai giống anh Tư bên Mã Lai, chị qua nhà bà Hai nói chuyện. Tui không biết chị nói gì. Thằng Bảy Lực từ đó im. Chị chỉ cất cái đồng hồ trong cái hộp thiếc dưới đáy tủ, dưới mấy lớp áo bà ba. Tui biết chỗ đó. Tui chưa bao giờ mở.
Bây giờ thì người nghe biết vì sao tui im.
Không phải tui sợ anh Tư. Ổng nói đúng một chuyện: tui mà mở miệng, tụi nhỏ sẽ hỏi má tụi nó có biết không. Mà má tụi nó biết. Biết suốt hai mươi lăm năm. Biết mà vẫn lấy tui, vẫn để tụi nhỏ thắp nhang cho một người cha đang sống ở bên kia biển. Tui không biết tụi nhỏ sẽ nghĩ gì về má nó. Tui chỉ biết tui đã thề với bả, và bả nằm trên bàn thờ chưa được năm mươi ngày.
Tối ngày thứ năm, tui ngồi ở nhà sau, sơn lại hai con mắt ghe lên một tấm ván để mai đem ra ốp. Con Nhiên ra.
Lần này nó vô, ngồi xuống cái can dầu.
– Dượng. – Nó nói. – Con hỏi dượng câu chót.
Tui để cây cọ xuống.
– Má trối với con, ba con mà có về thì con hỏi ổng cái đồng hồ. – Nó nói. – Con hỏi ổng rồi. Ổng nói ổng đeo nó đêm đó, nó tuột mất dưới biển. Rồi ổng nói dượng lột của ổng. Con nghĩ cả đêm. Nếu dượng lột của ổng, thì má đâu có cần con hỏi ổng. Má hỏi dượng là được rồi. Má biết cái đồng hồ đó từ đâu ra. Má muốn con nghe ổng nói. Má muốn con nghe ổng nói láo, phải hông dượng?
Tui nhìn con Nhiên. Ba mươi lăm tuổi, nó giống má nó y khuôn. Cái trán, cái cằm, cái cách nó ngồi thẳng lưng khi hỏi một câu khó.
Tui không trả lời. Mà tui cũng không nói "dượng không biết". Lần này tui không nói được câu đó nữa.
Con Nhiên nhìn tui rất lâu. Nó gật đầu một cái, như người vừa đọc xong một toa thuốc và thấy liều ghi sai.
– Con hiểu rồi. – Nó nói.
Nó đứng dậy, đi ra cửa. Tới cửa, nó dừng lại.
– Sáng mai ba con với anh Hai ra khơi, chiếc ghe lưới của vựa. Anh Hai đi theo. Con nói anh Hai đừng đi, ảnh không nghe.
– Đài nói áp thấp vô. – Tui nói.
– Con biết. – Con Nhiên nói. – Con nói rồi. Ba con nói ba đi biển trước khi đài biết nói.
Bốn giờ sáng hôm sau, tui nghe tiếng máy ghe nổ ngoài bến. Tui chạy ra. Trời còn tối. Chiếc ghe lưới mười lăm mét của vựa thằng Trung đã tách bến, đèn hành trình chớp chớp, mũi ghe hướng ra hòn Chà Là. Trên cabin, tui thấy cái bóng ông Tư Giáp đứng sau bánh lái. Kế bên là cái bóng thằng Trung, mặc áo phao màu cam.
Trên đồn biên phòng đầu bãi, cái loa đã bắt đầu phát: đề nghị bà con ngư dân có ghe nhỏ không ra khơi, các ghe đang ở ngoài khẩn trương vào nơi trú tránh.
— Hết chương 6 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe