AI Truyện
Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

🏠 Gia đình & vả mặt

Người quỳ trước bàn thờ

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần · Chương 1/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Người quỳ trước bàn thờ

Hai mươi tám năm trước, tui đứng giữa sân đình làng Bãi Lở, nói với cả làng rằng anh Tư Giáp chết ngoài biển. Sáng nay, ngày bốn mươi chín của bả, anh Tư Giáp bước vô nhà tui, quỳ xuống trước bàn thờ vợ tui, và kêu tên bả trống không, cái kiểu chỉ chồng mới kêu vợ.

– Ngọt ơi. Anh về trễ.

Lúc đó tui đang cầm bình bông cúc vàng trên tay, định đặt lên bàn thờ. Cái bình rớt. Nước văng ướt chân bàn, bông cúc lăn lóc dưới gạch. Không ai để ý cái bình. Cả nhà, cả mấy bà hàng xóm qua phụ cỗ, cả thầy đọc kinh, đều đang nhìn người đàn ông quỳ đó.

Mà thôi, để tui kể từ đầu buổi sáng. Tui ít chữ, kể chuyện mà nhảy cóc là lộn tùm lum.

Bốn giờ sáng, tui dậy nấu nồi cháo cá cho thầy và mấy bà đọc kinh. Má tụi nhỏ mất đúng bốn mươi chín ngày trước, ở bệnh viện tỉnh, sau ba tháng chạy chữa cái bệnh gan mà bác sĩ nói phát hiện trễ quá. Bả sáu mươi mốt tuổi. Bả bán cá ở chợ làng ba chục năm, sau này làm thêm mấy lu nước mắm ngoài sân sau, mùi mắm ngấm vô cột vô kèo, giờ đứng trong nhà hít vô vẫn còn nghe.

Nhà này là nhà tui với bả cất năm hai ngàn lẻ sáu, tường gạch, mái tôn, hiên trước có cây cột gỗ dầu đã đen bóng. Cây cột đó lớn tuổi hơn căn nhà. Tui dựng nó từ năm chín chín, hồi mẹ con bả còn ở trong cái chòi tôn sau bão. Cất nhà mới, thợ biểu bỏ đi cho đẹp, tui không cho. Trên thân cột có mấy vạch dao khắc, cái thấp cái cao, kèm mấy chữ cái và con số. Tụi nhỏ lớn rồi, không đứa nào nhìn tới mấy vạch đó nữa.

Năm giờ, thằng Hai Trung với vợ nó là con Kiều chạy xe hơi từ Phan Thiết xuống. Thằng Trung bốn chục tuổi, làm chủ một vựa hải sản đông lạnh, có hai cái kho lạnh với một dàn xe tải nhỏ chở hàng đi Sài Gòn. Nó là đứa con thành đạt nhứt xóm, ai cũng nói vậy. Nó gật đầu chào tui, kêu "dượng", rồi đi thẳng vô phòng trong. Hai mươi bốn năm nay nó chào tui đúng một chữ đó, không hơn.

Con Út Nhiên thì về từ chiều hôm qua, đi xe khách từ Sài Gòn xuống. Nó làm dược sĩ ở một bệnh viện lớn trên đó, có chồng, có đứa con gái sáu tuổi. Chồng con nó không về, nó về một mình, xách cái giỏ đựng bánh trái cây. Bước vô sân, nó ôm tui một cái, nhẹ, như ôm người quen.

Hôm qua, lúc dọn cái tủ áo của má nó để lấy bộ đồ bả ưa mặc ra đặt lên bàn thờ, con Nhiên kiếm thấy một cái hộp thiếc đựng bánh quy cũ. Cái hộp nằm tuốt dưới đáy tủ, dưới mấy lớp áo bà ba. Trong hộp có mấy tấm hình, sợi dây chuyền bạc, cái kẹp tóc, và một cái đồng hồ đeo tay đàn ông, dây kim loại, mặt đen. Đồng hồ đã chết từ hồi nào. Mặt sau nắp có khắc mấy chữ nhỏ: "G – N 1984".

Nó đem ra hiên hỏi tui.

– Dượng ơi, cái này của ai vậy?

Tui cầm cái đồng hồ trong tay. Kim loại lạnh. Tui đã không cầm nó hai mươi lăm năm.

– Của ba con. – Tui nói. – Chắc má con cất.

– Của ba con? – Nó nhíu mày. – Má nói ba mất ngoài biển, cái gì trên người cũng trôi theo hết. Sao còn cái này?

– Chắc chuyến đó ổng để quên ở nhà.

Con Nhiên nhìn tui một hồi, rồi lấy lại cái đồng hồ, bỏ vô túi áo. Nó không hỏi thêm. Mà nó là đứa giống má nó nhứt nhà, cái gì không hỏi ra miệng là nó để dành hỏi sau.

Tám giờ, thầy bắt đầu tụng. Nhà chật người. Bà con hàng xóm, mấy bà bạn hàng cá của má tụi nhỏ, mấy ông bạn ghe của tui. Chú Chín Đen bảy mươi lăm tuổi, bạn ghe lâu năm nhứt của tui, ngồi ngoài hiên, cái lưng còng như mũi ghe. Con Kiều chỉ huy mấy bà dọn cỗ, giọng nó lanh lảnh. Thằng Tôm, con trai thằng Trung, mười lăm tuổi, ngồi ở góc bấm điện thoại, sang năm nó đi du học bên Úc.

Tui lo cái bàn thờ. Đó là việc duy nhất trong nhà bữa nay không ai giành với tui. Tui lau tấm hình má tụi nhỏ bằng cái khăn xô bả hay quấn đầu đi chợ, đặt dĩa xoài cát bả ưa ăn, đặt chén mắm nêm bả tự làm hồi tháng Giêng, mẻ cuối cùng. Cái áo bà ba tím con Nhiên lấy ra, tui xếp vuông, để kế bên lư hương. Bả mặc cái áo đó đi ăn đám cưới con Nhiên trên Sài Gòn mười năm trước. Bữa đó tui ngồi bàn chót, gần cửa nhà vệ sinh của nhà hàng. Bả đi một vòng mời rượu, tới bàn tui thì bả ngồi xuống, gắp cho tui một miếng tôm, rồi đứng dậy đi tiếp. Không ai thấy. Bả cũng không cần ai thấy.

Đang lau cái lư, tui nghe con Kiều nói điện thoại ngoài hiên, giọng hạ thấp mà vẫn lanh lảnh.

– Dạ, xong bốn chín ngày rồi tính, chị. Nhà mặt đường xuống bến, đất rộng, bán dễ mà... Ông dượng hả? Thì ổng có con cháu gì đâu, ổng về quê ổng chớ ở đây làm gì. Nhà này của má tụi em...

Con Kiều quay vô, thấy tui đứng trong cửa, nó cúp máy cái rụp, cười cười.

– Dượng ra ngoài ngồi nghỉ đi dượng, để con lo. Lát khách vô đông, dượng đứng giữa nhà chật chỗ.

Tui ra hiên ngồi kế chú Chín Đen. Chú rót cho tui một ly trà, nói nhỏ, không nhìn tui:

– Bốn chín ngày chưa qua mà tụi nó đã tính rồi hả mậy.

– Kệ tụi nó chú.

– Kệ cái con khỉ. – Chú Chín Đen nhổ bã trầu xuống gốc cây cột. – Mày cất cái nhà này bằng hai cái tay mày. Tao còn nhớ.

Chín giờ hơn, tụng xong một thời, tui đi bưng bình bông mới ra thay. Đúng lúc đó, có tiếng xe ôm dừng ngoài ngõ.

Một ông già bước vô sân. Ổng mặc áo sơ mi màu cát đã sờn cổ, quần tây cũ, mang đôi dép quai hậu, xách một cái túi vải xanh. Ổng ốm, da đen sạm, tóc bạc trắng cắt ngắn. Ổng đi chậm, mắt nhìn quanh cái sân như người đi tìm một món đồ đánh rớt. Ổng nhìn cây cột gỗ dầu ngoài hiên lâu hơn mọi thứ khác.

Mấy bà ngồi ngoài hiên ngưng nói chuyện. Chú Chín Đen ngóc đầu dậy, nheo mắt.

Ông già đi thẳng vô nhà, không hỏi ai, không chào ai. Ổng đi tới trước bàn thờ, nhìn tấm hình má tụi nhỏ, tấm hình chụp hồi bả năm mươi tuổi, tóc búi, mặc áo bà ba tím, cười ít. Rồi ổng quỳ xuống.

– Ngọt ơi. Anh về trễ.

Đó là lúc cái bình bông rớt khỏi tay tui.

Cả nhà im phăng phắc. Thầy tụng ngưng gõ mõ. Con Kiều đứng sững trong cửa bếp, tay còn cầm cái vá. Thằng Trung từ phòng trong bước ra, thấy người lạ quỳ trước bàn thờ má nó, nó nhíu mày, định hỏi.

Rồi ông già quay đầu lại.

Tui thấy thằng Trung khựng lại. Nó nhìn mặt ông già. Nó nhìn cái vết sẹo nhỏ hình lưỡi liềm trên chân mày bên trái, cái vết mà hồi nhỏ nó hay lấy ngón tay rờ, mỗi lần được ba cõng ra bến coi ghe về. Vết đó ổng bị lưỡi câu quẹt hồi còn trai trẻ, cả làng ai cũng biết.

Thằng Trung bốn chục tuổi đứng đó, miệng mở ra, mà không ra tiếng. Rồi nó nói, giọng nhỏ, như thằng nhỏ mười hai tuổi:

– Ba?

Ông già đứng dậy. Ổng đứng không vững, phải vịn vô cạnh bàn thờ. Ổng nhìn thằng Trung, nhìn từ đầu tới chân, như người ta nhìn một cái cây mình trồng rồi bỏ đi, giờ về thấy nó cao hơn mình.

– Trung. – Ổng nói. – Con lớn dữ vậy.

Thằng Trung bước tới. Một bước. Hai bước. Rồi nó ôm chầm lấy ông già. Nó khóc. Tui chưa bao giờ thấy thằng Trung khóc, kể cả bữa má nó mất. Bữa đó nó đứng cạnh giường bệnh, mặt cứng đơ, tay nắm chặt cái thành giường, không ra một giọt nước mắt. Giờ nó ôm ông già ốm nhom, vai nó rung lên, tiếng khóc của nó nghe như tiếng ghe máy nổ không lên.

Mấy bà ngoài hiên bắt đầu xì xào. "Ông Tư Giáp." "Trời đất, ông Tư Giáp." "Ổng chết rồi mà." "Chết hồi bão năm Mậu Dần mà." Chú Chín Đen đứng dậy, chống gậy, đi tới cửa, đứng nhìn vô.

Con Út Nhiên đứng ở góc phòng, hai tay ôm lấy nhau. Nó không chạy tới. Nó bảy tuổi hồi ba nó đi biển không về. Nó nhớ ba nó được bao nhiêu? Một cái lưng, một tiếng cười, một mùi thuốc rê. Nó nhìn ông già, rồi nhìn sang tui. Tui thấy tay nó thọc vô túi áo, chỗ nó cất cái đồng hồ.

Ông Tư Giáp buông thằng Trung ra. Ổng quay sang con Nhiên.

– Út. Út phải không?

Con Nhiên gật đầu.

– Lại đây ba coi.

Con Nhiên đi tới. Chậm. Ổng ôm nó. Nó để ổng ôm, hai tay buông thõng, rồi từ từ, hai tay nó vòng lên lưng ổng.

Tui đứng đó, chân ướt nước bông, giữa đám cúc vàng nằm lăn lóc dưới gạch. Không ai kêu tui. Không ai nhìn tui. Hai mươi bốn năm làm chồng má tụi nhỏ, hai mươi tám năm phụ nuôi tụi nó, tui đứng trong nhà tui mà như đứng nhờ chỗ người ta.

Rồi ông Tư Giáp nhìn qua vai con Nhiên, thấy tui.

Ổng nhìn tui lâu lắm. Ánh mắt ổng không có gì ngạc nhiên. Ổng biết tui ở đây. Ổng biết từ trước khi bước vô ngõ. Có khi ổng biết từ lâu rồi.

– Dảnh. – Ổng nói. – Mày còn sống hả Dảnh.

Câu đó ổng nói như người ta hỏi thăm nhau ngoài chợ. Cả nhà nghe vậy. Mấy bà ngoài hiên nghe vậy. Thằng Trung, con Nhiên, con Kiều nghe vậy.

Chỉ có tui nghe ra cái khác. Hai mươi tám năm trước, trên một hòn đảo đá trơ trọi cách bờ ba tiếng ghe chạy, cũng giọng đó, cũng cái nhìn đó, ổng nói với tui một câu dặn. Bây giờ ổng nói một câu hỏi thăm, mà tui nghe ra y nguyên câu dặn hồi đó.

Mày còn sống thì mày nhớ, mày đã hứa gì với tao.

— Hết chương 1 —

Mục lục Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần

  1. 1Người quỳ trước bàn thờ9 phút đọc
  2. 2Mày im thì tao im10 phút đọc
  3. 3Cây cột gỗ dầu9 phút đọc
  4. 4Đêm Mậu Dần theo lời ông Tư Giáp9 phút đọc
  5. 5Bảy ngày9 phút đọc
  6. 6Điều má tụi nhỏ biết10 phút đọc
  7. 7Loa biên phòng9 phút đọc
  8. 8Nút thòng lọng ghe9 phút đọc
  9. 9Lời khai trong cabin9 phút đọc
  10. 10Cái đồng hồ9 phút đọc
  11. 11Vạch Tết trên cây cột10 phút đọc

Về truyện này

Dượng Dảnh và đêm bão năm Mậu Dần là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →