Chương 9: Cái chìa trong hũ gạo
Tối thứ Tư, quanh cái bàn gỗ nhà tôi ở cuối ngõ có ba người và một cái điện thoại: tôi, con Bông, Lâm. Cái điện thoại để loa ngoài, đầu dây bên kia là bà Nguyệt ở Đông Mai.
Lâm không dám nói câu nào trước. Khi tôi bảo cậu ấy chào bà, cậu ấy chỉ nói được một tiếng "bà ơi" rồi nghẹn. Đầu dây bên kia im rất lâu. Rồi bà Nguyệt nói, giọng đều đều như lúc bà dạy hát.
– Lâm. Bà nghe ông Triệu kể rồi. Mày ký cái đơn ấy, bà không tha cho mày ngay được đâu. Nhưng bà biết mày không xé lịch của bà.
– Cháu không xé, bà ơi.
– Bà biết. Mày xé lịch thì xé một tờ còn rách, mày chưa bao giờ xé được cái gì cho gọn.
Con Bông bật cười, rồi vội lấy tay che miệng. Lâm cũng cười, vừa cười vừa lau nước mắt bằng mu bàn tay.
Tôi kể cho bà nghe về tin nhắn của cậu Vượng. Ông Hiển biết chỗ cất sổ đỏ, trong tuần này lấy được. Bà Nguyệt nghe xong thì hỏi một câu:
– Anh ấy nghĩ tôi cất ở đâu?
– Bà không ở nhà, va li ông Bỉnh anh ấy lục rồi, tủ lục rồi, – tôi nói. – Chỗ còn lại anh ấy chưa mở được là cái hòm áo chèo trên gác xép. Cái hòm có khoá.
– Chìa hòm tôi mang theo đây, – bà nói. – Trong hòm chỉ có áo.
– Anh ấy không biết thế.
Đầu dây im lặng. Rồi bà Nguyệt nói một câu mà tôi không ngờ.
– Tôi về.
– Bà về làm gì? – Lâm hốt hoảng. – Bà cứ ở đấy, cháu với ông Triệu lo…
– Lo cái gì? Nhà của tôi. Tôi về ngồi trong nhà tôi thì có gì sai? – Giọng bà to lên, cái giọng ngày xưa đứng trên chiếu chèo ra lệnh cho cả gánh. – Anh ấy muốn vào nhà tôi tìm sổ đỏ thì để anh ấy vào. Tôi ngồi đấy. Tôi muốn nhìn tận mặt anh ấy lúc anh ấy mở cái hòm áo của tôi.
Tôi gọi cho Thành ngay đêm ấy. Tôi kể hết, kể cả cái ý của bà Nguyệt. Thành nghe xong thì nói chậm, từng chữ một, như sợ tôi nghe sót.
– Bác ạ, cháu nói rõ để bác với chị Nguyệt biết. Công an không thể nấp sẵn trong nhà dân để chờ bắt một người chỉ vì nghi ngờ. Cháu không làm thế được. Nhưng chị Nguyệt là chủ nhà, chị ấy có quyền ở trong nhà mình, ở lúc nào cũng được, có người thân ở cùng cũng được. Nếu có người tự ý vào nhà chị ấy, lục lọi, lấy đồ, thì chị ấy hoặc người nhà gọi một một ba, hoặc gọi thẳng cho cháu. Sáng thứ Sáu cháu trực, nhà cháu cách đấy năm phút.
– Được.
– Còn một điều nữa. – Giọng Thành nghiêm hẳn lại. – Không ai được đánh, được giữ người, được khoá cửa nhốt ai lại. Thấy gì thì nhìn, thì quay phim nếu chị Nguyệt đồng ý, thì gọi. Thế thôi. Bác nhắc anh Lâm giúp cháu. Anh ấy đang nóng.
Tôi nhắc Lâm. Lâm gật, mặt đỏ gay.
Sáng thứ Năm, Lâm đi chợ mua cho ông Hiển hai lạng chè Thái, rồi sang nhà ông ấy ngồi uống nước. Đấy là việc khó nhất của cả kế hoạch, và cũng là việc của Lâm, không ai làm thay được. Tôi ngồi ở gốc sấu cắt tóc cho khách, mắt nhìn vào gương. Qua cánh cửa gỗ mở toang, tôi thấy hai người ngồi đối diện nhau ở bàn nước. Tôi không nghe được gì. Mười lăm phút sau Lâm ra, đi thẳng về cuối ngõ. Mãi đến trưa cậu ấy mới ra gốc sấu kể lại, tay vẫn còn run.
Lâm bảo cậu ấy nói đúng như đã bàn. Cậu ấy đã nhận được tin nhắn của anh Vượng, cậu ấy cảm ơn bác Hiển đã lo cho cậu ấy. Cậu ấy bảo bọn đòi nợ hẹn thứ Bảy, cậu ấy sợ lắm. Rồi cậu ấy hạ giọng, bảo cậu ấy nhớ ra rồi, hồi trước bà hay cất giấy tờ quan trọng trong cái hòm áo chèo trên gác xép.
– Ông ấy hỏi cháu có chìa hòm không, – Lâm nói. – Cháu bảo không. Cháu bảo bà hay giấu chìa vặt trong hũ gạo. Cháu nói câu ấy xong, ông ơi, ông ấy cầm chén nước mà nước sánh ra cả bàn.
– Rồi sao?
– Rồi ông ấy cười, bảo bà lẫn nên mới giấu đồ trong hũ gạo. – Lâm nuốt nước bọt. – Cháu bảo cháu không dám động vào đồ của bà. Mai cháu nhận một cuốc đi Hải Phòng, chở khách đi đám cưới, sáu giờ sáng đi, tối mới về. Ông ấy bảo cứ đi, bác trông nhà cho.
– Ông ấy có bảo cháu đưa chìa cổng không?
– Không. – Lâm nhìn tôi. – Ông ấy không hỏi xin chìa.
Tôi không nói gì. Người không có chìa mà định vào nhà người khác lấy đồ thì phải hỏi xin chìa. Ông Hiển không hỏi.
Buổi trưa hôm ấy, Lâm mở cổng cho con Bông vào. Nó xuống bếp, mở hũ gạo nhà bà Nguyệt, vùi xuống dưới lớp gạo một cái chìa khoá nhỏ, chìa của cái ổ khoá tủ cũ nhà tôi, chẳng mở được cái gì. Chìa hòm thật thì bà Nguyệt đang giữ.
Chiều thứ Năm, ông Hiển sang bày cờ. Lâm đi chạy xe, ông Kính bận đưa cháu đi học bơi, chỉ có hai chúng tôi. Ông ấy đi quân đỏ, tôi đi quân đen, như ba mươi năm nay.
Ông ấy đánh chậm. Đến nước thứ mười, ông ấy ngẩng lên nhìn tán sấu.
– Cây này ông Bỉnh trồng năm sáu sáu, anh biết không? Hôm ấy tôi cũng đứng đây. Tôi mười tuổi, đi học về, thấy ông ấy đào hố, tôi xách giúp xô nước. Cây con có bằng ngón tay cái.
– Tôi biết, ông kể rồi.
– Kể rồi à. – Ông ấy cười. – Già rồi, kể đi kể lại. – Ông ấy đẩy con tốt lên một bước, chẳng để làm gì. – Anh Triệu, anh có bao giờ nghĩ đến lúc mình không tự lo được cho mình không?
– Có. Nghĩ suốt.
– Tôi cũng nghĩ. Thằng Cường nhà tôi làm ăn thua lỗ, nợ ngân hàng, nợ cả người ngoài. Cái nhà tôi đang ở nó bắt tôi bán. Bán xong thì tôi về ở với nó, ở trong cái căn hộ hai phòng trên tầng mười bảy, nhìn xuống thấy toàn mái nhà người khác. – Ông ấy nhìn tôi. – Người già mà không có nhà thì như cái cây bị bứng gốc. Anh hiểu không?
Tôi hiểu. Tôi hiểu đến mức suýt nữa thì nói hết với ông ấy, nói rằng bà Nguyệt cũng là một cái cây, rằng ông ấy đang bứng gốc một cái cây khác để cứu cái cây của mình. Nhưng tôi chỉ đi một nước pháo.
– Chiếu tướng, – tôi nói.
Ông ấy nhìn bàn cờ rất lâu, rồi đặt tay lên con tướng đỏ, đẩy nó sang một bên.
– Tôi thua, – ông ấy nói. – Dạo này tôi thua anh hoài.
Ông ấy đứng dậy, phủi quần, đi về. Tôi ngồi lại xếp quân vào hộp. Con tướng đỏ ông ấy bỏ lại cạnh bàn cờ, tôi cầm lên, thấy nó ấm.
Mười một giờ đêm thứ Năm, một chiếc xe bốn chỗ Lâm gọi qua ứng dụng dừng ở đầu ngõ, tắt máy ngay. Bà Nguyệt bước xuống, theo sau là bà Hoè. Bà Hoè nhất định đòi đi theo, bảo hai mươi năm hát chung một chiếu, bạn có việc thì phải đứng cạnh. Bà Nguyệt mặc lại cái áo cánh trắng của bà, đội cái mũ phớt của ông Bỉnh, tay ôm cái túi vải nâu.
Ngõ tối. Đèn đường đầu ngõ hắt vào một quầng vàng nhạt. Nhà ông Hiển tắt đèn từ mười giờ. Tôi đứng chờ ở gốc sấu, cạnh cái ghế cắt tóc đã khoá xích.
Bà Nguyệt đi đến gốc sấu thì dừng lại. Bà đưa tay sờ vào thân cây, sờ chậm như sờ lưng một người già. Rồi bà nhìn vào tấm gương treo trên cái đinh. Trong gương, dưới vành mũ phớt, là một bà già tóc ngắn, gầy guộc, đôi mắt sáng.
– Năm mươi hai năm ông treo cái gương này ở đây, – bà nói thì thầm. – Tôi đi qua nó mỗi sáng. Tôi chưa ngồi vào ghế của ông lần nào, cho đến hôm thứ Năm.
– Sao bà không ngồi?
– Đàn bà ngồi ghế cắt tóc vỉa hè thì người ta cười. – Bà nhìn tôi. – Hôm thứ Năm, tôi ngồi đấy, nhắm mắt lại. Ông cầm cái đầu tôi trong tay, tôi nghĩ ông thế nào cũng nhận ra. Ông không nhận ra. Lúc ấy tôi vừa mừng vừa tủi.
– Bà tủi cái gì?
– Tủi là ngần ấy năm, cả cái ngõ này chỉ nhớ tôi bằng cái búi tóc.
Tôi không biết trả lời thế nào. Bà Nguyệt quay đi, đi sang cái cổng sắt xanh. Lâm đã chờ sẵn, mở ổ khoá thật khẽ, bôi tí dầu máy từ chiều nên cái ổ không kêu. Bà Nguyệt, bà Hoè và con Bông đi vào. Lâm vào sau cùng, cài ổ khoá bên trong như mọi đêm cậu ấy về muộn, rồi nằm xuống cái ghế dài ở tầng dưới.
Trong căn nhà tối, ba người đàn bà lên gác. Con Bông nhắn cho tôi: "Bà ngồi trên gác xép rồi ông ạ. Bà bảo cháu tắt điện thoại cho đỡ sáng. Cháu tắt đây."
Đêm ấy tôi về nhà mà không ngủ. Tôi nằm nghe tiếng quả sấu rụng trên mái tôn, lộp độp, rời rạc, như tiếng bước chân người đi trên mái. Ba giờ sáng có một trận mưa ngắn. Bốn giờ thì gà nhà ai trong ngõ gáy.
Năm giờ rưỡi, Lâm dắt xe ra khỏi cổng, móc ổ khoá lại bên ngoài, đội mũ bảo hiểm, nổ máy thật to. Ông Hiển đang quét lá sấu trước cổng nhà mình. Lâm dừng xe lại.
– Cháu đi Hải Phòng đây bác. Tối cháu về.
– Ừ, đi cẩn thận. Đường Hải Phòng sáng sớm xe tải nhiều lắm.
Lâm phóng ra phố, rẽ trái, mất hút. Tôi biết cậu ấy sẽ vòng ra sau, gửi xe ở nhà đứa bạn ngõ bên, rồi đi bộ về nhà tôi bằng lối cổng sau trường tiểu học.
Sáu giờ bốn mươi lăm, tôi dựng ghế, mở tủ, treo khăn, đặt cái hộp sắt lên nóc tủ như mọi ngày. Ông Thập đến cạo râu sớm. Tôi cạo cho ông ấy, tay vững như năm ba mươi tuổi, mà mắt cứ nhìn vào gương.
Bảy giờ kém năm. Giờ ấy bà Nguyệt đi chợ qua sau lưng tôi, mùi dầu bưởi, tiếng dép. Hôm nay không có ai đi qua.
Bảy giờ. Trong gương, cái cổng gỗ nhà ông Hiển mở. Ông Hiển đi ra, tay cầm cái bình tưới nhựa xanh. Tôi đặt dao cạo xuống, lau tay vào khăn, đếm từng bước chân ông ấy.
Ông ấy không rẽ sang cái cổng sắt xanh. Ông ấy đứng lại, nhìn về phía gốc sấu một lúc lâu, rồi quay người, cầm bình tưới đi thẳng về phía đầu ngõ.
— Hết chương 9 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe