Chương 4: Ông cụ đi giày rộng
Sáng thứ Bảy, tôi không dựng ghế. Năm mươi hai năm, những buổi tôi bỏ ghế không nhiều, mà buổi nào cũng là có chuyện lớn: vợ tôi mất, tôi mổ ruột thừa.
Con Bông đến từ bảy giờ, chở tôi ra hiệu kính ngoài phố. Cô bán kính trẻ măng bắt tôi đọc chữ trên cái bảng sáng đèn, rồi bảo mắt tôi tăng độ, kính cũ đeo sai số lâu rồi. Kính mới sáng mai mới lấy được. Con Bông trả tiền, không cho tôi trả, rồi chở tôi về đầu ngõ, ngồi xuống cạnh mẹt xôi của bà nội thằng Cò ăn sáng.
Thằng Cò đang ngồi xổm xếp lá chuối, thấy tôi thì chạy lại.
– Ông ơi, hôm qua chú công an hỏi con có thấy ông cụ đội mũ không. Con có thấy đấy, nhưng con quên nói.
– Con thấy lúc nào?
– Lúc tối hôm kia ấy ông. Con ngồi đây chơi điện thoại của bà con, chờ bà con dọn hàng. Ông cụ ấy đi ra, đi chậm lắm, giày cứ tuột gót. Đến chỗ cái cống thì giày tuột hẳn, ông ấy phải cúi xuống xỏ lại. Con thấy trong giày có giấy báo nhét ở mũi.
– Giày thế nào?
– Giày da đen ông ạ. To lắm, mũi tròn. Như giày bộ đội ngày xưa nhưng bóng hơn.
Bà nội nó gạt đi, bảo trẻ con thấy gì nói nấy. Nhưng tôi tin nó. Thằng Cò đếm hạc của bà Nguyệt mà không sai một con, nó nhìn cái gì cũng kỹ.
– Ông ấy có nói gì với con không?
– Không ạ. Ông ấy đi qua, nhìn con một cái. Rồi ông ấy… – thằng Cò ngừng lại, nghĩ. – Ông ấy giơ tay lên, như kiểu định xoa đầu con, nhưng lại thôi.
Tôi ngồi im một lúc. Con Bông nhìn tôi, rồi nhìn thằng Cò.
– Ông, – nó nói. – Ông cụ ấy đi giày rộng, nhét giấy báo. Ông cụ ấy đi giày của người khác.
– Ừ.
– Thế mũ cũng là mũ của người khác.
Tôi không trả lời. Tôi đứng dậy, đi ra mặt phố.
Điểm chờ xe buýt cách đầu ngõ chừng năm chục mét, có cái mái che bằng tôn và hai hàng ghế nhựa. Ông Thập xe ôm đỗ xe ở gốc cây ngay cạnh, sáng nào cũng ngồi đấy đọc báo chờ khách. Ông ấy thấy tôi thì gấp báo lại, mặt hơi ngượng vì chuyện chiều qua.
– Anh Triệu. Có tin gì chưa?
– Chưa. Tối thứ Năm ông có ngồi đây không?
– Có. Tôi ngồi đến tám giờ mới về.
– Ông có thấy một ông cụ đội mũ phớt nâu, mặc áo ka ki, ra đây chờ xe không?
Ông Thập gãi đầu, nghĩ một lúc, rồi đập tay vào đùi.
– Có! Có ông ấy. Ông ấy hỏi tôi xe nào ra bến xe Yên Nghĩa. Giọng khàn khàn như người đau họng. Tôi bảo để tôi chở, tám chục nghìn. Ông ấy lắc đầu, bảo đi xe buýt. Tôi chỉ tuyến cho ông ấy. Ông ấy cảm ơn, xong ngồi xuống cái ghế cuối, cúi đầu, tay ôm cái túi vải.
– Túi vải thế nào?
– Thì túi vải nâu, quai dài, kiểu túi các cụ đi lễ chùa.
– Ông có nhìn thấy mặt không?
– Đeo khẩu trang. Nhưng mà… – ông Thập nheo mắt. – Cái tay ông ấy trắng lắm. Tay nhỏ. Tôi nghĩ bụng ông này cả đời chắc chỉ cầm bút.
Tôi cảm ơn ông Thập, đi về. Con Bông đi bên cạnh, chẳng nói gì. Tôi biết nó đang nghĩ cái điều tôi đang nghĩ, mà cả hai ông cháu chưa ai dám nói ra.
Tôi không nói ra vì tôi không tin nổi. Tôi cắt tóc cho ông khách ấy hai mươi phút. Tay tôi chạm vào đầu ông ấy, vào gáy ông ấy, tôi đứng cách mặt ông ấy một gang tay. Bà Nguyệt thì tôi biết từ năm hai mươi hai tuổi. Không lẽ tôi không nhận ra.
Gần trưa thì Lâm về. Cậu ấy làm việc ở trụ sở công an đến tối qua, rồi ngủ nhờ nhà một đứa bạn chạy xe, sáng nay mới dám về ngõ. Cậu ấy đi bộ từ đầu ngõ vào, đầu cúi, không nhìn ai. Bà bán nước chè ở ngõ bên đứng nhìn theo, nói với người bên cạnh câu gì đấy, rồi cả hai cùng quay mặt đi.
Lâm không vào nhà. Cậu ấy đi thẳng ra gốc sấu, ngồi phịch xuống cái ghế đẩu chờ, hai tay ôm đầu.
– Ông ơi, họ hỏi cháu có làm gì bà không.
– Họ phải hỏi thế, – tôi nói. – Mày là người ở cùng.
– Cháu biết. Cháu không giận họ. – Cậu ấy ngẩng lên, mắt đỏ quạch. – Nhưng cả cái ngõ này nhìn cháu như nhìn thằng giết người. Ông Hiển kể với công an là cháu bắt bà ký giấy bán nhà. Cháu không bắt bà bán nhà, ông ạ. Cháu xin bà cho cháu cầm sổ đỏ đi vay ngân hàng hai trăm triệu, trả nợ người ta, rồi cháu trả dần. Bà không cho, bà bảo cầm sổ đỏ là mất nhà, bà thấy nhiều người mất nhà vì cái trò ấy rồi. Hai bà cháu to tiếng. Rồi thôi. Hôm sau bà vẫn mua xôi cho cháu.
– Sao ông Hiển lại bảo là giấy bán nhà?
– Cháu không biết. Có khi ông ấy nghe qua vách không rõ.
Lâm cúi đầu, xoa xoa mấy ngón tay vào nhau. Tôi nhìn cái gáy cậu ấy. Tóc cậu ấy dài quá tai, đã hai tháng không cắt.
– Cái căn cước của bà, – tôi hỏi. – Sao mày lại giữ?
– Ông Hiển bảo cháu giữ, – cậu ấy nói. – Ông ấy bảo dạo này bà hay quên đồ, mất căn cước thì làm lại khổ lắm. Cháu thấy cũng phải. Bà cũng không phản đối. Chú Thành hỏi cháu câu ấy ba lần rồi.
Tôi định hỏi thêm thì cậu ấy đứng dậy, bảo phải về lấy ít quần áo sang nhà bạn ở mấy hôm, cậu ấy không dám ngủ một mình trong căn nhà ấy. Chú Thành dặn cậu ấy cứ khoá cổng cẩn thận, chìa thì giữ, không cho ai vào.
Chiều, Thành ghé qua. Cậu ấy ngồi ghế chờ của tôi, cởi mũ, lau mồ hôi trán. Tôi kể cho cậu ấy chuyện đôi giày nhét giấy báo của thằng Cò, chuyện cái túi vải và bàn tay nhỏ của ông Thập. Cậu ấy ghi lại cả. Còn tin của cậu ấy chẳng có gì vui. Các bệnh viện quanh đây không nhận bệnh nhân nữ cao tuổi nào không rõ danh tính. Nhà tang lễ không có. Đã hỏi tài xế các tuyến xe buýt đi qua điểm chờ đầu phố. Có một bác tài tuyến đi Yên Nghĩa nhớ là tối thứ Năm có một ông cụ đội mũ phớt lên xe ở đây, xuống ở bến cuối. Từ bến Yên Nghĩa thì xe khách đi đủ các hướng phía nam và phía tây, mỗi ngày hàng trăm chuyến.
Cậu ấy cũng đã gọi cho người bạn cũ duy nhất mà Lâm biết số, bà Hoè ở làng Đông Mai bên sông Đáy, ngày xưa cùng đoàn chèo với bà Nguyệt. Bà Hoè bảo cả năm nay không gặp bà Nguyệt, chỉ thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm, rồi khóc trong máy, bảo có tin gì thì báo bà ấy ngay.
– Bến ấy có camera, – Thành nói. – Cháu đã đề nghị trích xuất. Nhưng trích xuất phải có thủ tục, mất mấy ngày.
– Chú có nghĩ ông cụ ấy là bà Nguyệt không? – Con Bông hỏi thẳng.
Thành nhìn nó, rồi nhìn tôi.
– Cháu có nghĩ, – cậu ấy nói. – Cái mũ ông Bỉnh mất. Thằng bé nói giày nhét giấy. Bác Thập nói tay nhỏ. Nhưng bác Triệu là thợ cắt tóc năm mươi năm, bác cắt tóc cho người ấy, bác lại biết bà Nguyệt từ thời trẻ. Nếu là bà, sao bác không nhận ra?
– Tôi không có kính, – tôi nói.
– Cháu biết. Thế bác có dám nói chắc là bà không?
– Không, – tôi nói. – Tôi không dám.
Thành gật đầu như đã đoán trước câu ấy. Cậu ấy bảo còn một chuyện. Sáng nay ông Hiển lên trụ sở, tự nguyện cung cấp thông tin. Ông ấy kể bà Nguyệt mấy tháng nay có biểu hiện lẫn. Quên rằm, quên chỗ để ấm, có lần mười giờ đêm sang gõ cửa nhà ông ấy hỏi hôm nay thứ mấy. Ông ấy bảo đã đặt lịch đưa bà đi khám vào thứ Hai tuần tới, bà biết chuyện thì không bằng lòng. Theo ông ấy, có thể bà sợ đi khám nên bỏ đi, rồi lạc đường.
– Ông ấy đặt lịch khám ở đâu?
– Ông ấy không nói rõ, bảo là một chỗ khám thần kinh quen. – Thành đội mũ lên. – Cháu sẽ hỏi lại.
Tôi nhìn cái cổng sắt xanh. Bà Nguyệt lẫn hay không, tôi không phải bác sĩ. Nhưng bà Nguyệt mà tôi biết, nếu sợ cái gì, thì bà đứng ra cãi tay đôi với cái ấy, chứ không bỏ đi. Năm bảy mươi hai, đoàn chèo đi diễn ở vùng có máy bay ném bom, cả đoàn núp hầm, bà là người chui ra đầu tiên để kiểm tra cái phông sân khấu.
Chủ nhật, con Bông đi lấy kính cho tôi từ sáng. Kính mới đeo vào, mọi thứ sắc như dao cạo. Tôi dựng ghế lại, cắt được bốn người khách. Ông Kính sang đánh cờ, đánh hai ván thì thua cả hai, ông ấy bảo tôi chơi như người ngủ. Ông Hiển không sang. Cả ngày ông ấy đóng cửa, chỉ ra một lần lúc chiều tưới mấy chậu hoa giấy trước cổng.
Đêm hôm ấy tôi không ngủ được. Nhà tôi ở cuối ngõ, cách gốc sấu chừng bốn chục mét, tôi ở một mình từ ngày vợ tôi mất, con trai con dâu ở bên kia sông. Mười một giờ, tôi xỏ dép đi ra đầu ngõ, ngồi xuống cái ghế cắt tóc của mình. Ngõ tối, chỉ có cái đèn đường ở cột điện đầu ngõ hắt vào một quầng vàng. Tôi ngồi như thế, quay mặt vào thân cây, nhìn vào tấm gương, như đã ngồi năm mươi hai năm.
Trong gương, dãy nhà bên kia tối om. Nhà ông Kính khoá chờ đập, nhà ông Hiển tắt đèn, nhà bà Nguyệt tối từ ba hôm nay.
Rồi trên cái cửa sổ tầng hai nhà bà Nguyệt, cái cửa sổ buồng ngủ của bà, có một vệt sáng lướt qua.
Tôi ngồi yên. Vệt sáng ấy lại lướt qua lần nữa, chậm hơn, tròn và trắng như ánh đèn pin, quét từ bên này sang bên kia, rồi dừng lại ở một góc, rồi lại quét. Có người đang ở trong buồng bà Nguyệt, cầm đèn pin, tìm cái gì đấy.
Lâm thì đêm nay ngủ nhà bạn. Tôi biết, cậu ấy bảo tôi lúc chiều.
Tôi đứng dậy, đi thẳng sang bên kia ngõ. Dép tôi đập lên mặt ngõ ướt sương. Đến cái cổng sắt xanh, tôi ngước lên. Vệt đèn trên cửa sổ tắt phụt. Cả căn nhà tối đen và im lặng như cái hũ đậy nắp.
Tôi đưa tay nắm vào cái ổ khoá trên cổng. Cái ổ khoá to bằng nắm tay, móc bên ngoài, vẫn khoá chặt, lạnh ngắt dưới tay tôi.
Người cầm đèn pin trong ấy đã không vào bằng cái cổng này.
— Hết chương 4 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe