AI Truyện
Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

🔍 Trinh thám

Ông khách cuối ngày

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo · Chương 6/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Ông khách cuối ngày

Thằng Cò không chịu trả con hạc. Nó ôm con hạc vào ngực, bảo đây là con thứ bảy mươi lăm, bà gửi cho nó qua ông.

– Bà không gửi cho con, – tôi nói. – Bà trả tiền cắt tóc cho ông.

– Bà đi cắt tóc ở chỗ ông à? Lúc nào?

Tôi không trả lời được. Bà nội thằng Cò gỡ con hạc ra khỏi tay nó, đưa lại cho tôi, rồi bắt nó ngồi xuống bóc ngô. Tôi trả tiền ngô bằng một tờ hai mươi nghìn khác, phẳng phiu, rồi cầm con hạc về nhà như cầm một con chim thật, sợ nó bay mất.

Con Bông đến lúc bảy giờ tối, mang theo hộp cơm mẹ nó nấu. Tôi không ăn. Tôi đặt con hạc lên giữa cái bàn gỗ, bật đèn bàn, đeo cái kính mới vào. Hai ông cháu ngồi nhìn nó.

– Ông chắc là của bà Nguyệt không? – con Bông hỏi.

– Thằng Cò chắc. Thằng Cò có bảy mươi tư con hạc của bà ấy trong hộp bút.

– Thế người trả tiền là…

– Ông khách cuối ngày thứ Năm.

Nó im. Tôi cũng im. Rồi tôi bắt đầu nói, không phải nói với nó, mà nói với chính mình, đếm từng thứ như đếm tiền.

Ông khách ấy đi ra từ cổng nhà bà Nguyệt, đứng quay lưng ở cổng một lúc để khoá ổ khoá bên ngoài. Ông ấy đội mũ phớt nâu, đúng lúc cái mũ phớt nâu của ông Bỉnh biến mất khỏi cái đinh trên bàn thờ. Ông ấy đi giày da đen mũi tròn rộng quá cỡ, phải nhét giấy báo vào mũi. Ông Bỉnh cao mét bảy, bà Nguyệt cao mét năm. Ông ấy có giọng khàn, nói ít, như người cố nén giọng. Bà Nguyệt hát chèo bốn mươi năm, bà đóng cả vai Thị Kính giả trai, đóng cả vai mụ, vai lão, bà đổi giọng được như người ta thay áo.

Tóc ông ấy bạc trắng, mảnh, trơn như tơ, bị cắt nham nhở, chỗ dài đến cằm, chỗ ngắn trơ chân tóc, như ai tự cầm kéo cắt cho mình. Một người búi tóc to bằng nắm tay, tự cầm kéo cắt phăng cái búi đi, thì phần tóc còn lại trên đầu sẽ dài đến cằm, so le như thế.

Gáy ông ấy nhỏ, da mỏng, chân tóc mọc thấp. Tôi đã bảo là như gáy con nít. Cả đời tôi chỉ thấy cái gáy như thế ở đàn bà và trẻ con.

Lúc chải, tôi ngửi thấy mùi nồi nước gội đầu ngày ba mươi Tết ở quê. Nồi nước ấy người ta đun bằng lá bưởi, vỏ bưởi, bồ kết. Bà Nguyệt cả đời chải dầu bưởi tự ngâm, đi ngang qua gốc sấu là tôi ngửi thấy.

Ông Thập bảo tay ông ấy trắng, nhỏ, như cả đời chỉ cầm bút. Thằng Cò bảo ông ấy giơ tay như định xoa đầu nó, rồi lại thôi.

Suốt hai mươi phút ngồi ghế, ông ấy không mở mắt nhìn vào gương lần nào. Tôi tưởng ông ấy buồn ngủ. Bây giờ tôi hiểu. Ông ấy không dám nhìn vào gương, vì trong gương có mắt tôi.

– Ông ơi, – con Bông nói khẽ.

– Ông cắt tóc cho bà ấy, – tôi nói. – Ông cắt tóc cho bà Nguyệt mà ông không nhận ra.

Câu ấy nói ra rồi thì tôi không ngồi thẳng lưng được nữa. Tôi đã tưởng mình biết đầu người còn hơn biết mặt người. Năm mươi hai năm, đầu của ai đi qua tay tôi một lần là tôi nhớ. Thế mà cái đầu tôi đã nhìn mỗi sáng năm mươi năm, đi chợ qua gốc sấu, búi tóc trắng cài trâm sừng, tôi cầm trong tay hai mươi phút mà không nhận ra.

– Ông không có kính, – con Bông nói. – Trời tối. Bà đeo khẩu trang. Bà đội mũ ông Bỉnh, mặc áo ông Bỉnh, đi giày ông Bỉnh. Bà giả giọng. Mà ông đã bao giờ thấy bà Nguyệt không có búi tóc đâu.

– Ông chưa thấy.

– Thì đấy. Ông nhận người bằng cái búi tóc. Bà biết thế nên bà cắt nó đi.

Tôi nhìn con hạc. Con Bông thì nói đúng, nhưng tôi biết có một điều khác nữa mà nó không nói. Tôi không nhận ra, vì tôi không bao giờ nghĩ bà Nguyệt lại ngồi vào ghế cắt tóc của tôi. Tôi chỉ nhìn thấy cái mà tôi chờ để nhìn thấy, một ông khách cuối ngày. Năm mươi hai năm nhìn đời qua cái gương ngược, tôi tưởng tôi lật được mọi thứ cho đúng chiều. Hoá ra có những thứ tôi không lật, vì tôi không nghĩ là nó ngược.

– Ông mở nó ra đi, – con Bông nói. – Biết đâu bà viết gì trong ấy.

Tôi cầm con hạc lên. Tay tôi run, phải đặt khuỷu tay lên bàn mới giữ được. Tôi gỡ cái đuôi gấp hai lần trước, rồi đến cánh, rồi đến cổ. Tờ hai mươi nghìn duỗi ra dần, đầy nếp gấp chéo như mặt người già. Ở mặt sau, trên khoảng nền nhạt màu cạnh hình chùa Cầu, có mấy dòng chữ viết bằng thứ bút mực dầu ngòi nhỏ, nhỏ li ti, nét chữ nghiêng của người học chữ thời trước.

Con Bông soi đèn pin điện thoại vào. Tôi đọc to, từng chữ một.

– Ông Triệu. Tôi không lẫn. Có người muốn tôi lẫn. Đừng tin ai trong ngõ. Đừng tìm tôi trước thứ Hai.

Hết. Không có tên. Không cần có tên.

Con Bông ngồi thụp xuống ghế, thở ra một hơi dài, hai tay ôm mặt. Rồi nó cười, cái cười của đứa trẻ vừa biết mình không bị bỏ rơi.

– Bà còn sống, ông ơi. Bà tự đi.

– Ừ. Bà tự đi.

Lúc ấy, như có ai mở nút một cái chai, câu nói khẽ của ông khách cuối ngày trở về trong tai tôi. Mấy hôm nay tôi chỉ nhớ được có chữ "ông thợ". Bây giờ tôi nghe ra đủ cả câu, cái giọng khàn cố nén, nhưng nhịp thì đúng là nhịp người đã nói lối trên chiếu chèo bốn mươi năm, lên ở chữ đầu, xuống ở chữ cuối.

"Ông thợ giữ hộ tôi."

Tôi đã tưởng ông khách nhờ tôi giữ hộ cái gì đấy, rồi quên mất. Ông ấy đi rồi, tôi còn nhìn quanh xem có ai bỏ quên cái túi, cái ô. Bà Nguyệt nhờ tôi giữ hộ con hạc. Bà biết tối Chủ nhật tôi mới đổ hộp tiền ra đếm, cả ngõ ai cũng biết thói ấy của tôi. Bà tính rằng nếu tôi tìm thấy nó sớm, thì cũng phải sau ba bốn ngày, khi bà đã đi đủ xa.

– "Có người muốn tôi lẫn" là sao hả ông?

Tôi không trả lời ngay. Tôi nghĩ đến cái lược trong hũ gạo. Cái lịch xé nhầm rằm. Cái ấm tích nằm trên bàn thờ. Mười giờ đêm bà sang nhà ông Hiển hỏi tìm cái ấm. Ông Hiển nói với tôi, nói với công an, rằng bà lẫn. Thằng Lâm cũng nói bà hay quên. Ai cũng nói thế, và tôi cũng gật đầu theo, vì người già thì ai chả quên.

– Nghĩa là có người đi đặt đồ vào chỗ sai, – tôi nói. – Để bà tưởng bà quên. Để người khác tưởng bà quên.

– Ai?

– Ông không biết. – Tôi chỉ vào tờ tiền. – Bà bảo đừng tin ai trong ngõ.

– Thế còn "đừng tìm trước thứ Hai"?

– Hôm nay là thứ Hai.

Con Bông nhìn đồng hồ. Tám giờ mười lăm tối thứ Hai. Rồi nó nhìn tôi, mắt sáng lên.

– Ông biết bà ở đâu không?

Tôi nghĩ. Bà Nguyệt không có con, không có anh chị em nào còn sống. Họ hàng chỉ có nhà Lâm, mà bà bảo đừng tin ai trong ngõ thì bà cũng không về nhà mẹ thằng Lâm. Bà đi xe buýt ra bến Yên Nghĩa, từ đấy có xe khách đi các tỉnh phía nam và phía tây. Bà không mang điện thoại, không mang căn cước, căn cước thì thằng Lâm giữ. Một bà già không căn cước thì không thuê được nhà nghỉ, không vào được chùa lạ mà ở lâu. Bà phải đến một chỗ người ta biết mặt bà, cho bà ở mà không hỏi giấy tờ.

– Bà Hoè, – tôi nói. – Ở Đông Mai, bên sông Đáy. Bạn đoàn chèo của bà ấy.

– Nhưng chú Thành gọi rồi. Bà Hoè bảo không gặp.

– Bà Hoè cũng là đào chèo, – tôi nói. – Chú Thành gọi điện, bà ấy khóc trong máy. Đào chèo khóc thì ai chẳng tin.

Con Bông há miệng, rồi gật đầu lia lịa.

– Mai cháu đưa ông đi. Cháu nghỉ học một hôm.

– Không được. Mày học hành…

– Ông đi một mình thế nào được? Ông có biết Đông Mai ở đâu không? Cháu xem bản đồ rồi, đi xe khách từ Yên Nghĩa, xuống ở chợ, đi tiếp mười cây số. Ông bảy mươi tư tuổi. Cháu đi.

Tôi không cãi lại nó được. Tôi cầm tờ tiền lên lần nữa, đọc lại dòng chữ nhỏ li ti. "Đừng tin ai trong ngõ." Tôi nghĩ đến Thành. Thành không ở trong ngõ. Thành đã nói chữ "mời" rất rõ khi đưa Lâm đi. Thành đã ghi chậm câu "trả lâu rồi" của ông Hiển. Mấy hôm nay cậu ấy đi tìm một bà cụ, hỏi bệnh viện, hỏi nhà tang lễ, hỏi tài xế xe buýt. Nếu bà còn sống mà tôi giấu cậu ấy, thì tôi cũng chẳng khác gì người đặt cái lược vào hũ gạo.

Tôi gọi điện cho Thành. Cậu ấy đến sau mười lăm phút, mặc áo phông, đi dép tổ ong, có lẽ vừa ở nhà ra. Tôi kể hết. Tôi đưa cậu ấy xem tờ tiền. Cậu ấy đọc, đọc lại, rồi chụp ảnh cả hai mặt, rồi đặt tờ tiền xuống bàn, tay vẫn đè lên nó.

– Bác ạ, nếu bà là người trưởng thành, minh mẫn, tự nguyện đi khỏi nhà, thì đấy là quyền của bà, – cậu ấy nói. – Việc của cháu là biết chắc bà an toàn. Mai bác đi tìm, có gì gọi cháu ngay. Cháu không đi cùng, vì bà đã viết là đừng tin ai, công an đến thì bà lại sợ. Nhưng bác phải giữ máy.

– Được.

– Còn chuyện này nữa, – Thành nói, rồi ngừng lại.

Cậu ấy rút điện thoại ra, mở một tấm ảnh, đặt lên bàn cạnh tờ tiền. Ảnh chụp một tờ giấy có quốc hiệu, có dấu đỏ.

– Chiều nay cháu hỏi bác Hiển số điện thoại chỗ khám, bác ấy không đưa được. Cháu quay sang hỏi Lâm. Lâm khóc, rồi mới đưa cháu cái này. Cậu ấy giấu nó dưới đệm ghế, vì xấu hổ.

Tôi cúi xuống, đẩy kính lên sống mũi. Đó là giấy của toà án. Có một người đã nộp đơn, yêu cầu toà tuyên bố bà Sầm Thị Nguyệt mất năng lực hành vi dân sự. Kèm theo là lịch đưa bà đi giám định pháp y tâm thần, sáng thứ Hai, tức là sáng nay. Đơn nộp từ ba tuần trước, trước khi bà biến mất hơn hai tuần.

Người đứng tên trên lá đơn ấy là Khổng Đức Lâm.

— Hết chương 6 —

Mục lục Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

  1. 1Ngôi rẽ bên nào12 phút đọc
  2. 2Cái cổng khoá từ bên ngoài10 phút đọc
  3. 3Búi tóc trên bàn thờ10 phút đọc
  4. 4Ông cụ đi giày rộng10 phút đọc
  5. 5Cửa sân thượng không cài then9 phút đọc
  6. 6Ông khách cuối ngày10 phút đọc
  7. 7Làng Đông Mai bên sông Đáy9 phút đọc
  8. 8Những buổi sáng ông Hiển đi tưới cây10 phút đọc
  9. 9Cái chìa trong hũ gạo10 phút đọc
  10. 10Cái hòm áo chèo trên gác xép9 phút đọc
  11. 11Con hạc thứ hai9 phút đọc

Về truyện này

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →