Chương 2: Cái cổng khoá từ bên ngoài
Tôi chưa trả lời được câu nào thì Lâm đã kéo tôi vào nhà.
Nhà bà Nguyệt là kiểu nhà ống hai tầng xây từ thời bao cấp. Tầng dưới phòng khách thông với bếp. Tầng trên, phía trước là buồng ngủ của bà, có cửa sổ nhìn ra ngõ, phía sau là gian thờ. Trên cùng có cái gác xép bà để hòm áo chèo. Năm mươi năm nay tôi vào nhà ấy không biết bao nhiêu lần, khi thì sửa cái quạt trần, khi thì ông Bỉnh gọi sang uống rượu. Ông Bỉnh mất rồi thì ít vào hơn. Sáng hôm ấy tôi đứng ở chân cầu thang, ngửi thấy mùi hương trầm cũ, mùi dầu bưởi, và mùi một căn nhà chưa ai mở cửa sổ.
Lâm dẫn tôi lên buồng. Cái giường gỗ lim của hai ông bà vẫn trải chiếu cói phẳng phiu, cái gối xếp gọn ở đầu giường, màn chưa mắc. Đôi dép nhựa của bà nằm ngay ngắn dưới chân giường, mũi dép quay ra cửa. Cái điện thoại cục gạch của bà cắm sạc trên bàn, đèn xanh đã sáng đầy.
– Bà cháu đi đâu mà không đi dép? – Lâm hỏi, như hỏi tôi thì tôi biết. – Bà cháu đi đâu cũng mang điện thoại. Cháu dặn mãi.
– Tối qua mày về lúc mấy giờ?
– Gần một giờ sáng ạ. Cháu chạy cuốc sân bay về.
– Mày về thì cổng thế nào?
Lâm gãi đầu. Nó kể là lúc về, cổng sắt khoá bằng cái ổ khoá to bên ngoài. Bình thường tối nào bà cũng khoá trong, thò tay qua song sắt bấm ổ, Lâm về thì gọi bà xuống mở hoặc tự lấy chìa của mình mở. Tối qua thì ổ khoá lại móc bên ngoài, như khi cả nhà đi vắng.
– Cháu tưởng bà lại quên, – nó nói. – Dạo này bà hay quên. Cháu mở cổng, dắt xe vào, khoá trong rồi đi ngủ. Cháu ngủ ở ghế dưới nhà. Sáng nay cháu dậy pha nước, không thấy bà xuống, cháu lên thì thế này.
Tôi đứng nhìn cái giường. Bà Nguyệt dậy từ năm giờ sáng đã năm mươi năm nay. Mùa đông cũng như mùa hè, năm giờ là bà mở cửa sổ, sáu giờ bà quét sân, bảy giờ kém năm bà đi chợ. Một người như thế mà đi đâu thì phải có lý do của người ấy.
– Mày gọi công an phường chưa?
– Cháu gọi rồi. Cháu gọi cả ông Hiển.
Hai mươi phút sau, Thượng úy Thành công an phường đến. Cậu ấy ba mươi tư tuổi, người to cao, nói chậm và chắc như người đếm tiền, đã phụ trách khu dân cư này bốn năm. Tôi cắt tóc cho cậu ấy tháng một lần, cậu ấy bao giờ cũng trả năm mươi nghìn và không lấy tiền thối. Sáng hôm ấy cậu ấy mặc thường phục, vừa xuống xe đã rút sổ tay ra.
Thành hỏi Lâm từng câu, chậm rãi. Bà sinh năm bao nhiêu, cao bao nhiêu, mặc gì lần cuối, có bệnh gì, đang uống thuốc gì, có họ hàng ở đâu. Lâm trả lời được một nửa. Bà sinh năm bốn bảy. Bà cao chừng mét năm. Bà có huyết áp, uống thuốc mỗi sáng. Họ hàng thì quê bà ở bên kia sông Hồng, nhưng người thân thì chẳng còn ai, chỉ có nhà Lâm.
– Ảnh chân dung gần đây của bà có không anh? – Thành hỏi. – Thẻ căn cước của bà đâu?
– Căn cước bà cháu thì cháu giữ, – Lâm nói, rút cái ví ở túi quần sau ra. – Ông Hiển bảo bà hay để quên, cháu giữ hộ cho khỏi mất.
Cậu ấy đưa ra cái thẻ căn cước. Thành cầm lấy, nhìn ảnh, nhìn Lâm, không nói gì, chỉ ghi vào sổ. Tôi đứng cạnh, thấy mặt Lâm đỏ dần lên.
Ông Hiển về đến nơi lúc tám giờ kém mười lăm, đạp xe hộc tốc từ nhà con trai ở bên Long Biên, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Ông ấy dựng xe ở cổng, chạy vào, nắm tay tôi.
– Anh Triệu, chị Nguyệt đi đâu? Tối qua anh ngồi đây đến tối, anh có thấy gì không?
– Tôi đang định kể với chú Thành.
Thành bảo tôi kể từ đầu. Tôi kể chuyện sáng hôm qua bà đi chợ, chuyện cái lược trong hũ gạo, chuyện bà mua xôi cho thằng Cò. Chiều bà không ra. Sáu rưỡi ông Hiển đi. Bảy giờ hơn, lúc tôi phủi tóc cho cậu sinh viên, có một ông cụ đi ra từ một trong hai cái cổng, sang gốc sấu ngồi cắt tóc. Cắt xong ông ấy đi ra đầu ngõ.
– Ông cụ đi ra từ cổng nào hả bác? – Thành hỏi.
– Trong gương thì từ cái cổng bên trái.
– Bên trái là nhà ông Hiển! – Lâm nói ngay.
– Bên trái trong gương, – tôi nói. – Trong gương thì cổng nhà bà Nguyệt nằm bên trái. Ngoài đời thì bên phải.
– Bác chắc không? – Thành hỏi, giọng không có ý trêu, chỉ hỏi cho chắc.
Tôi không trả lời bằng miệng. Tôi đi ra gốc sấu, đứng sau cái ghế cắt tóc, chỗ đứng của tôi mỗi ngày, và gọi Thành ra đứng cạnh. Trong gương, cái cổng sắt xanh của bà Nguyệt nằm bên trái, cái cổng gỗ nhà ông Hiển bên phải. Thành nhìn gương, rồi quay lại nhìn thẳng sang bên kia ngõ, rồi lại nhìn gương.
– Năm mươi hai năm tôi nhìn cái gương này, – tôi nói. – Cái gì ngược tôi cũng lật lại được. Hôm qua có một lần tôi rẽ ngôi nhầm cho ông Kính, nhưng cổng nhà thì tôi không nhầm. Ông cụ ấy đi ra từ cổng nhà bà Nguyệt.
– Không thể có chuyện ấy, – ông Hiển nói. – Nhà chị Nguyệt làm gì có khách nào là ông già. Chị ấy chẳng tiếp ai.
– Nhà tôi thì khoá từ sáu rưỡi, – ông Hiển nói tiếp, quay sang Thành. – Tôi đi thì tôi khoá. Chú hỏi anh Triệu, anh ấy thấy tôi khoá cổng.
Tôi gật đầu. Tôi có thấy ông ấy khoá.
Thành im một lúc, rồi hỏi một câu mà tôi phải nghĩ mới hiểu cậu ấy muốn đi đến đâu.
– Nếu ông cụ ấy đi ra từ cổng nhà bà Nguyệt, thì sau đó ai khoá cái ổ khoá bên ngoài?
Lâm đứng sững. Ông Hiển nhìn tôi. Tôi nhớ lại cảnh trong gương. Ông cụ đi ra, đứng ở cổng một chút, quay lưng lại phía tôi. Tôi tưởng ông ấy đứng nhìn trời, hoá ra có thể là ông ấy đang khoá cổng.
– Có thể ông ấy khoá, – tôi nói. – Ông ấy đứng ở cổng một lúc, quay lưng lại.
– Thế thì ông cụ ấy có chìa khoá, – Thành nói chậm. – Chìa ổ khoá cổng có mấy cái hả anh Lâm?
– Bà cháu một cái, cháu một cái.
– Còn ai giữ không?
Lâm ngập ngừng, quay sang ông Hiển. Ông Hiển giơ hai tay lên.
– Hồi chị Nguyệt mổ mắt, năm kia, chị ấy có đưa tôi một cái để sang tưới cây. Chị ấy khỏi là tôi trả lại rồi. Trả lâu rồi.
– Bác trả lúc nào ạ? – Thành hỏi.
– Thì chị ấy khỏi mắt là tôi trả. Tháng nào thì tôi không nhớ, nhưng trả rồi.
Thành ghi. Tôi để ý thấy cậu ấy ghi cái câu ấy chậm hơn mấy câu khác.
Đến chín giờ thì cả ngõ đã biết. Hàng xóm đứng kín trước cổng bà Nguyệt, ai cũng có một giả thuyết. Bà nội thằng Cò bảo chắc bà về quê thăm mộ. Con bé Thơm bán bánh mì bảo nghe nói người già lẫn hay đi lạc, có bà ở phố bên đi lạc ba ngày mới thấy ngồi ở bến xe. Ông Kính giáo bảo bà Nguyệt không lẫn, ông đánh cờ với bà còn thua, ngày xưa bà đóng vai Thị Kính giả trai đi tu, cả rạp không ai nhận ra là đào. Ông Thập xe ôm bảo nhìn mặt thằng Lâm là biết có chuyện. Câu ấy ông Thập nói nhỏ, nhưng Lâm nghe thấy. Nó quay phắt lại, mắt đỏ lên, rồi lại cúi đầu đi vào nhà.
Thành gọi điện về trụ sở báo cáo, rồi cùng một cậu cảnh sát khu vực nữa đi kiểm tra camera trong ngõ. Ngõ tôi có đúng một cái camera, gắn ở cột điện đầu ngõ, do tổ dân phố góp tiền lắp năm ngoái. Cơn bão hồi tháng trước quật gãy cái cần, cái camera chúc mặt xuống đất, từ đấy đến giờ nó chỉ quay được cái nắp cống. Tổ trưởng đã nói ba lần là sẽ gọi người sửa.
Thành đi ra mặt phố, xin xem camera của mấy cửa hàng gần đầu ngõ. Trưa cậu ấy quay lại, ngồi xuống ghế chờ của tôi, đưa điện thoại cho tôi xem một đoạn phim đen trắng nhoè nhoẹt. Bảy giờ hai mươi lăm tối, một ông cụ đội mũ phớt, mặc áo sáng màu, đi từ đầu ngõ ra mặt phố, rẽ trái, về phía điểm chờ xe buýt. Không thấy mặt, chỉ thấy cái dáng hơi khom và bước chân ngắn.
– Có phải ông khách của bác không?
– Mũ thế, áo thế, – tôi nói. – Dáng thì nhìn thế này tôi không dám nói.
– Bác nhớ mặt ông ấy không?
– Ông ấy đeo khẩu trang. Mà hôm qua tôi không có kính, chú ạ. Cậu đội trật tự đô thị dẫm vỡ kính tôi buổi sáng.
Thành gật đầu, không có vẻ gì là trách. Cậu ấy bảo sẽ cho người hỏi tài xế xe buýt các tuyến đi qua điểm ấy, và hỏi các bệnh viện, các phường lân cận. Người già đi khỏi nhà chưa đến một ngày thì công an vẫn nhận tin báo, vẫn tìm, nhưng chưa có gì để nói là có người hại bà. Cậu ấy dặn Lâm in ảnh bà ra, dán ở đầu ngõ và gửi lên nhóm chat của tổ dân phố.
– Ảnh bà, – Lâm lẩm bẩm. – Ảnh bà cháu để đâu nhỉ.
– Trên bàn thờ ông có cái ảnh bà chụp năm ngoái, – ông Hiển nhắc. – Chụp ở hồ Gươm hôm hội người cao tuổi mừng thọ bà.
Lâm đi lên gác. Tôi ngồi lại với Thành và ông Hiển ở bậc cửa. Ông Hiển châm điếu thuốc, tay hơi run.
– Anh Triệu, – ông ấy nói nhỏ, không nhìn tôi. – Tôi nói thật với anh, tôi sợ chị ấy lẫn thật rồi. Tuần trước chị ấy sang nhà tôi lúc mười giờ đêm, hỏi tôi có thấy cái ấm tích của chị ấy đâu không, trong khi cái ấm nằm ngay trên bàn thờ ông Bỉnh. Tôi bảo chị đi khám, chị ấy giận tôi.
– Bà ấy chưa bao giờ đặt ấm lên bàn thờ, – tôi nói.
– Thì đấy. Người lẫn mới làm thế.
Tôi không cãi. Tôi đang nghĩ đến cái ông cụ đội mũ phớt, và cái ổ khoá móc bên ngoài.
Trên gác có tiếng Lâm gọi to, cái giọng nghẹn như có ai bóp cổ.
– Chú Thành ơi! Ông Triệu ơi!
Chúng tôi chạy lên. Lâm đứng trước bàn thờ ông Bỉnh, hai tay bưng một thứ gì trắng xoá, dài gần bằng cánh tay. Tôi phải đi sát lại mới nhìn rõ.
Đó là cái búi tóc của bà Nguyệt, đã bị cắt rời khỏi đầu, buộc ngang bằng một sợi chỉ đỏ.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe