AI Truyện
Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

🔍 Trinh thám

Con hạc thứ hai

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo · Chương 11/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Con hạc thứ hai

Tôi quàng khăn cho bà Nguyệt. Cái khăn trắng tôi giặt bằng xà phòng mỗi tối, phơi trên dây ở sân nhà, quàng qua cái cổ gầy của bà thì rộng quá, tôi phải gấp đôi lại mới cài được cái kẹp.

Bà ngồi thẳng lưng, hai tay ôm cái búi tóc trắng đặt trên đùi, mắt mở to nhìn vào tấm gương. Bà nhìn tôi trong gương. Lần này thì tôi có kính, kính mới, nhìn rõ cả những nếp nhăn nhỏ ở đuôi mắt bà, cái nốt ruồi nhỏ trên thái dương mà năm mươi năm tôi không biết là có.

– Ông rẽ ngôi cho tôi bên nào? – bà hỏi.

– Tóc ngắn thế này thì rẽ ngôi làm gì.

– Thì tôi hỏi thế thôi. Hôm thứ Năm ông cắt cho tôi, tôi nhắm mắt, tôi không biết ông rẽ bên nào.

– Tôi không rẽ. Tôi cắt cho ông khách cuối ngày, đàn ông húi gọn thì không ai rẽ ngôi.

Bà cười. Lần này cái cười mở ra hết. Ông Kính đang ngồi ghế đẩu chờ cũng cười. Thằng Cò ở đầu ngõ không biết người lớn cười gì, cũng ngoái lại cười theo.

Tôi cắt cho bà chậm hơn lần trước. Tôi tỉa lại những chỗ hôm thứ Năm tôi cắt vội vì không có kính. Tôi sửa lại đường tóc mai cho mềm hơn, để dài hơn một chút ở đỉnh đầu, kiểu tóc ngắn của các bà già Hà Nội ngày trước. Tóc bà trơn và mảnh như tơ, vẫn thơm mùi dầu bưởi. Trong gương, sau lưng bà, cái cổng sắt xanh mở toang, bà Hoè đang lúi húi quét sân, Lâm đi đi lại lại, chưa dám ra.

– Ông có giận tôi không? – bà hỏi, khi tôi đang đưa tông đơ lên gáy.

– Giận cái gì?

– Tôi lừa ông. Tôi ngồi trên ghế ông, bắt ông cắt tóc cho tôi mà không nói.

Tôi tắt tông đơ, đứng nghĩ một lúc.

– Tôi không giận bà. Tôi giận tôi. Năm mươi hai năm tôi tưởng tôi nhìn cái gương này là thấy hết. Hoá ra tôi chỉ thấy cái tôi chờ để thấy.

– Thì ai chả thế, – bà nói. – Ông Hiển cũng nhìn tôi mà chỉ thấy cái nhà.

Tôi cắt xong, phủi gáy, gỡ khăn. Bà ngồi thêm một lúc, soi gương, xoay đầu sang trái, sang phải. Rồi bà đứng dậy, móc trong túi áo cánh ra một tờ tiền gấp sẵn thành con hạc, đặt vào cái hộp sắt.

Tôi chưa cầm lên vội.

Lâm đứng ở cổng sắt xanh từ lúc nào. Cậu ấy không dám sang, chỉ đứng bám tay vào song cổng, như hồi bé đứng chờ bà đi chợ về. Bà Nguyệt nhìn thấy cậu ấy trong gương trước khi quay lại.

– Lâm. Sang đây.

Lâm đi sang, đứng cách bà hai bước, đầu cúi gằm. Cái áo khoác chạy xe cậu ấy vẫn mặc từ năm giờ sáng, loang một mảng ướt trên vai vì trận mưa đêm.

– Bà không cần mày xin lỗi, – bà Nguyệt nói trước khi cậu ấy kịp mở miệng. – Xin lỗi thì dễ. Bà cần mày làm cho xong việc. Tuần sau mày lên toà, rút cái đơn ấy ra. Mày tự đi, bà đi cùng.

– Vâng.

– Cái căn cước của bà, mày đưa đây.

Lâm rút ví, lấy cái thẻ căn cước ra, hai tay đưa cho bà. Bà cầm, nhìn cái ảnh của chính mình hồi còn búi tóc, rồi cất vào túi áo.

– Bà có cho cháu ở nữa không? – Lâm hỏi, giọng nhỏ như tiếng muỗi.

Bà Nguyệt im một lúc. Ông Kính trên ghế đẩu giả vờ nhìn lên tán sấu. Tôi giả vờ lau cái tông đơ.

– Ở, – bà nói. – Mày là cháu bà. Mày dại thì bà cũng có phần dại, vì bà nuôi mày mà không dạy mày đến nơi. Nhưng từ nay cái gì của bà thì bà giữ. Cái gì của mày thì mày tự lo.

Lâm gật đầu, gật mãi không thôi. Rồi bà Nguyệt hỏi một câu làm cả ba người đàn ông dưới gốc sấu đều ngẩn ra.

– Câu "con cò lặn lội" bà dạy mày hồi bé, mày còn nhớ không?

– Cháu… còn nhớ ạ.

– Hát bà nghe.

Lâm đỏ mặt tía tai, nhìn quanh. Đầu ngõ, bà nội thằng Cò đang bán xôi. Con bé Thơm đang nướng bánh mì. Nhưng bà Nguyệt cứ nhìn cậu ấy, nên cậu ấy hát. Cậu ấy hát dở thật, lạc giọng ngay từ chữ thứ ba, lên không tới, xuống không hết. Hát xong câu ấy thì cậu ấy dừng, mặt như sắp khóc.

Bà Nguyệt cười, rồi bảo hát thế mà ngày xưa bà vẫn khen, bà đúng là lẫn thật.

Đó là sáng thứ Sáu. Chuyện sau đấy, kể nhanh thì cũng chẳng có gì nhiều.

Chiều hôm ấy bà Nguyệt lên trụ sở công an phường, cùng bà Hoè và con Bông, làm đơn trình báo, giao đoạn phim, ký vào mấy tờ biên bản. Thành tiếp bà, rót nước cho bà, hỏi bà từng câu chậm rãi như hỏi Lâm hôm nọ. Thành không nói với tôi ông Hiển sẽ bị xử lý thế nào. Cậu ấy bảo việc ấy có người có thẩm quyền xem xét, cậu ấy chỉ làm đúng phần của cậu ấy. Tôi không hỏi thêm.

Tuần sau, Lâm lên toà. Cậu ấy mặc áo sơ mi trắng, cạo râu sạch sẽ, đến gốc sấu nhờ tôi chải lại cái đầu trước khi đi. Bà Nguyệt đi cùng. Cậu ấy làm đơn rút lại yêu cầu. Bà Nguyệt mang theo cái giấy khám trí nhớ của bệnh viện, ngồi ở hàng ghế đầu, lưng thẳng như ngồi xem hội. Thẩm phán là một bà trung niên đeo kính, đọc kỹ lá đơn rút, hỏi Lâm có ai ép buộc cậu ấy rút đơn không. Lâm bảo không, cậu ấy tự thấy mình sai. Ít hôm sau, toà ra quyết định đình chỉ việc giải quyết. Lâm ra khỏi toà thì đứng ở bậc thềm khóc như trẻ con, bà Nguyệt phải đứng lấy khăn lau mặt cho cậu ấy giữa thanh thiên bạch nhật.

Bà Nguyệt bắt Lâm đi làm ca ngày ở một xưởng in ngoài phố, ca đêm mới chạy xe. Tiền làm ra đưa bà giữ một nửa để trả nợ dần, mỗi tháng bà đưa đi trả tận tay, có giấy biên nhận. Hai thằng xăm trổ không quay lại nữa, sau cái hôm Thành ghé qua đầu ngõ hỏi thăm chúng nó mấy câu.

Cậu Vượng đến thêm một lần, đứng ở cổng nói chuyện với bà Nguyệt nửa tiếng. Bà không mời cậu ấy vào nhà. Cậu ấy đi rồi, bà ra gốc sấu ngồi, kể với tôi là bên công ty bảo sẽ sửa thiết kế, lối xe vào khách sạn chuyển sang đầu kia. Nhà ông Hiển thì vẫn bán, vì thằng Cường cần tiền. Cuối tháng Bảy, một cái xe tải nhỏ đến chở đồ đạc nhà ông Hiển đi. Tủ, giường, mấy chậu hoa giấy, cái bàn uống nước. Cái chổi rễ dựng ở góc sân thượng thì không ai mang theo.

Ông Hiển về lấy nốt mấy thứ vào một buổi chiều cuối tháng. Ông ấy đi bộ từ đầu ngõ vào, gầy hẳn đi, tóc bạc thêm, chắc lâu rồi không cắt. Ông ấy đi qua gốc sấu thì dừng lại. Tôi đang ngồi không, chưa có khách.

Tôi không nói gì. Tôi lấy cái bàn cờ ra, bày quân, quân đỏ về phía ông ấy, quân đen về phía tôi.

Ông ấy ngồi xuống cái ghế đẩu, nhìn bàn cờ rất lâu. Rồi ông ấy đưa tay ra cầm con pháo đỏ, cầm lên, đặt xuống, lại cầm lên. Rồi ông ấy đặt nó về đúng chỗ cũ, đứng dậy, cúi đầu chào tôi một cái, và đi vào nhà lấy đồ. Lúc đi ra, ông ấy xách một cái túi nhỏ, đi thẳng ra đầu ngõ, không quay lại.

Tôi ngồi nhìn bàn cờ chưa ai đi nước nào, rồi xếp quân vào hộp. Con tướng đỏ vẫn là con tướng hôm nọ ông ấy đẩy sang một bên mà bảo tôi thua. Hôm ấy nó ấm. Hôm nay tôi cầm lên, nó lạnh như mọi quân cờ gỗ khác.

Đầu tháng Tám, đội trật tự đô thị lại xuống. Lần này cậu đội viên dẫm vỡ kính của tôi đi đầu, tay cầm thước dây, cái mặt ngượng nghịu như học trò đến nhà cô giáo. Con Bông đã vẽ cho tôi một cái tủ gấp mới, gỗ thông, sơn màu xanh rêu, mở ra thành mặt bàn để đồ, gập lại thì mỏng như cánh cửa, áp sát vào tường trường tiểu học. Cái ghế cắt tóc kê sát gốc sấu, cái ghế chờ thì chỉ còn một chiếc. Cậu đội viên kéo thước từ chân tường ra mép vỉa hè. Một mét sáu.

– Bác ngồi thế này là đúng rồi ạ, – cậu ấy nói, rồi đỏ mặt. – Cái kính hôm nọ, cháu chưa đền bác.

– Thôi, – tôi nói. – Cháu ngồi xuống đây, tôi cắt tóc cho. Coi như cháu đền.

Cậu ấy ngồi xuống. Tóc cậu ấy cứng như rễ tre, tôi cắt mất hai mươi phút.

Bà Nguyệt bây giờ vẫn đi chợ lúc bảy giờ kém năm. Không còn búi tóc, bà đội cái nón lá cũ, đi ngang qua gốc sấu vẫn mùi dầu bưởi. Cái búi tóc trắng buộc chỉ đỏ thì bà vẫn để trên bàn thờ ông Bỉnh, cái trâm sừng đen bà mang theo suốt mấy hôm ở Đông Mai giờ cài lại vào búi. Bà bảo bà đã về nhà mình được rồi, đường đường chính chính, giờ bà nuôi lại tóc, bao giờ đủ dài để búi thì bà mới cất cái búi cũ vào hòm áo. Cái hòm ấy Lâm đã thay cho một cái khoá mới.

Thằng Cò được bà cho thêm hạc. Đến cuối tháng Tám thì nó có chín mươi hai con. Nó bảo đến con thứ một trăm nó sẽ mua cho bà một cái lược sừng mới, để bà không phải đi tìm cái cũ.

Còn con hạc bà Nguyệt đặt vào hộp tiền của tôi sáng hôm ấy, tôi đã không cầm lên ngay. Mãi đến tối Chủ nhật, khi đổ hộp tiền ra đếm, tôi mới nhặt nó ra, đặt lên bàn, ngắm cái đuôi gấp hai lần nhọn như mũi kim.

Hôm sau, lúc bà đi chợ về qua gốc sấu, tôi gọi bà lại, giơ con hạc lên.

– Lần này có chữ không?

Bà Nguyệt dừng lại, nhìn con hạc, nhìn tôi.

– Không, – bà nói. – Lần này chỉ là tiền cắt tóc.

Tôi không mở nó ra. Tôi bỏ con hạc lại vào cái hộp sắt, cạnh tờ tiền hôm thứ Năm có mấy dòng chữ nhỏ li ti, mà tôi đã nhờ thằng Cò gấp lại thành con hạc, đuôi gấp hai lần như bà dạy nó. Trên đầu, một quả sấu chín rụng xuống, lăn qua mặt tủ, rơi đúng vào hộp, nằm giữa hai con hạc.

— Hết —

Mục lục Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

  1. 1Ngôi rẽ bên nào12 phút đọc
  2. 2Cái cổng khoá từ bên ngoài10 phút đọc
  3. 3Búi tóc trên bàn thờ10 phút đọc
  4. 4Ông cụ đi giày rộng10 phút đọc
  5. 5Cửa sân thượng không cài then9 phút đọc
  6. 6Ông khách cuối ngày10 phút đọc
  7. 7Làng Đông Mai bên sông Đáy9 phút đọc
  8. 8Những buổi sáng ông Hiển đi tưới cây10 phút đọc
  9. 9Cái chìa trong hũ gạo10 phút đọc
  10. 10Cái hòm áo chèo trên gác xép9 phút đọc
  11. 11Con hạc thứ hai9 phút đọc

Về truyện này

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →