Chương 3: Búi tóc trên bàn thờ
Thành bảo Lâm đặt cái búi tóc xuống, đặt lại đúng chỗ nó vừa nhấc lên. Lâm run tay đến mức suýt đánh đổ bát hương.
Tôi đứng lùi ra cửa gian thờ, nhìn cái bàn thờ ông Bỉnh mà tôi đã thắp hương không biết bao nhiêu lần. Bàn thờ kê sát tường, phía trên treo ảnh ông Bỉnh mặc áo đại cán, cười hiền như lúc sống. Bên trái ảnh có cái đinh to, xưa nay vẫn treo cái mũ phớt nâu của ông. Bên phải là cái ảnh bà Nguyệt chụp ở hồ Gươm năm ngoái, hôm hội người cao tuổi mừng thọ bà. Trên mặt bàn thờ, ngay trước bát hương, bà Nguyệt đã trải một cái khăn vuông màu đen, gấp đôi, thứ khăn các bà đào chèo vẫn chít lúc lên chiếu. Cái búi tóc nằm trên khăn, quấn tròn lại như một con rắn nhỏ màu trắng, chỗ cắt buộc ba vòng chỉ đỏ, thắt nút gọn gàng. Bên cạnh là một chén nước trà đã nguội, và ba chân hương đã cháy hết.
– Bà cháu cắt tóc à? – Lâm hỏi, giọng như trẻ con.
– Ai cắt thì chưa biết, – Thành nói.
Cậu ấy chụp ảnh cái bàn thờ từ mấy phía, rồi ghé sát nhìn chỗ cắt. Tôi cũng nhìn. Tôi nhìn tóc người cả đời, không cần kính vẫn biết đây là tóc cắt bằng kéo, cầm cả búi trong tay mà cắt. Tóc búi chặt thì một nhát không đứt hết, phải cưa mấy lần, nên chỗ cắt hơi so le, nhưng gọn, không một sợi nào bị giật đứt.
– Chú Thành, – tôi nói. – Tôi không dạy chú làm nghề. Nhưng người nào làm hại bà ấy mà lại ngồi buộc chỉ đỏ, trải khăn, pha trà, thắp hương cho ông Bỉnh, thì tôi chưa thấy bao giờ.
Thành không trả lời ngay. Cậu ấy cầm chén trà lên ngửi, rồi đặt xuống.
– Cháu cũng nghĩ thế, – cậu ấy nói. – Nhưng cháu chưa được phép nghĩ thế, bác ạ. Cái gì chưa rõ thì phải coi như có thể xảy ra. Bà đi một mình, hay có người đi cùng, hay có người đưa đi, cháu chưa biết.
Tôi đứng thêm một lúc, rồi để ý một chuyện. Cái đinh to bên trái ảnh ông Bỉnh trống trơn. Cái mũ phớt nâu không còn treo ở đấy. Mười một năm nay cái mũ ấy chưa rời cái đinh, đến mùa nồm bà Nguyệt còn mang xuống phơi rồi lại treo lên.
– Cái mũ ông Bỉnh đâu? – tôi hỏi.
Lâm nhìn lên cái đinh, ngẩn ra. Nó ở trong nhà này một năm mà chưa bao giờ để ý cái mũ.
– Cái mũ thế nào hả bác? – Thành hỏi.
– Mũ phớt nâu, vành hẹp, chỗ băng vải đen có một vết cháy tàn thuốc. Ông Bỉnh đội từ hồi còn làm ở nhà máy.
Thành ghi. Cậu ấy hỏi tôi ông cụ khách tối qua đội mũ gì. Tôi bảo mũ phớt nâu. Cậu ấy hỏi có vết cháy không. Tôi bảo tôi không có kính, tôi không thấy. Cậu ấy gật đầu, mắt nhìn cái đinh trống.
– Có thể bà mang cái mũ ấy theo, – cậu ấy nói. – Có thể người khác mang. Cháu ghi cả hai.
Trước khi xuống nhà, Thành nhờ Lâm mở tủ quần áo của bà. Lâm không biết bà có bao nhiêu bộ, nên cậu ấy hỏi tôi. Tôi cũng không biết. Đàn ông sống cạnh nhau năm mươi năm cũng chẳng biết bà hàng xóm có mấy cái áo. Chỉ thấy trong tủ áo cánh treo đều đặn, mấy bộ áo dài gấp trong túi ni lông, ngăn dưới cùng trống một khoảng. Lâm bảo đấy là chỗ bà vẫn để cái túi vải nâu xách đi lễ chùa. Cái túi không còn, cái ví nhỏ của bà cũng không có.
Chúng tôi xuống bếp. Hũ gạo sành để ở góc, nắp đậy kín. Lâm mở ra cho Thành xem. Gạo còn quá nửa hũ, cái ống bơ đong gạo cắm nghiêng. Cái lược sừng bà kể hôm qua thì Lâm bảo đã nằm lại trên bàn trang điểm trên gác. Còn cái trâm sừng đen bà vẫn cài trên búi tóc thì không thấy đâu, không có trên bàn thờ, không có trong ngăn kéo.
– Bà cháu cài trâm đi chợ sáng qua, – Lâm nói. – Cháu thấy.
– Tôi cũng thấy, – tôi nói.
– Thế thì bà mang theo, – Thành nói, rồi lại tự sửa. – Hoặc là có người cầm đi.
Chiều hôm ấy, Thành mời Lâm về trụ sở công an phường làm việc. Cậu ấy nói chữ "mời" rất rõ, nói cả với tôi, cả với hàng xóm đứng ngoài cổng. Anh Lâm là người báo tin, là người thân, phải lấy lời khai cho đầy đủ, chưa có gì là nghi ai. Nhưng người ta không nghe chữ "mời". Người ta chỉ thấy Lâm ngồi sau xe máy của công an đi ra đầu ngõ.
– Thấy chưa, – ông Thập xe ôm nói. – Tôi bảo rồi.
– Ông bảo cái gì? – tôi hỏi.
– Thằng ấy nợ bốn trăm triệu. Có lần tôi nghe nó nói điện thoại, nó bảo bà già chết thì cái nhà này cũng của nó.
– Ông nghe hôm nào?
Ông Thập gãi gáy, bảo cũng lâu rồi, hồi Tết, mà chắc nó nói thế lúc say. Tôi không nói gì nữa. Ông Thập là người tốt, chở người ốm đi viện nửa đêm không lấy tiền, nhưng cái miệng ông ấy nhanh hơn cái đầu. Một câu ông ấy nghe hồi Tết, đến chiều nay đã thành nửa cái ngõ tin.
Tôi quay về gốc sấu, ngồi xuống ghế của khách, lần đầu tiên trong nhiều năm. Ngồi ghế khách thì thấy mặt mình trong gương. Không có kính, cái mặt ông già trong gương nhoè đi như người ta đứng sau tấm kính mờ.
Tôi cố nhớ lại ông khách cuối ngày hôm qua. Cái giọng khàn, nói ít. Cái tóc cắt nham nhở. Cái gáy. Tôi nhớ cái gáy rất kỹ, vì tôi đưa tông đơ lên gáy, mà gáy ông ấy nhỏ, da mỏng, chân tóc mọc thấp, như gáy con nít. Tôi nhớ lúc tôi chải, có một mùi gì đấy rất quen, thoang thoảng, như mùi nồi nước gội đầu ngày ba mươi Tết ở quê. Lúc ấy tôi không nghĩ gì. Bây giờ ngồi đây, tôi chỉ nghĩ ra là ông khách ấy sạch sẽ, chứ không nghĩ ra cái gì khác.
Tóc của ông ấy thì tôi đã quét vào sọt. Sáng nay chị lao công đã đổ sọt từ năm giờ.
Năm giờ chiều, con Bông về. Nó đi xe máy điện, mũ bảo hiểm màu hồng, vừa dựng xe đã đứng chống nạnh trước mặt tôi.
– Ông lại ngồi đây! Cả nhà cháu nghe tin trong nhóm chat của tổ dân phố rồi. Mẹ cháu bảo cháu sang đưa ông về.
– Ông chưa về được.
– Ông ở đây làm gì? Việc của công an chứ việc của ông à?
– Ông là người cuối cùng thấy ông khách ấy, – tôi nói. – Ông cắt tóc cho ông ấy.
Con Bông nhìn tôi. Nó cầm điện thoại lên xem tờ thông báo tìm người mà Lâm đã gửi lên nhóm chat trước khi đi với công an. Ảnh bà Nguyệt chụp ở hồ Gươm, búi tóc trên đầu, cái trâm sừng đen cài ngang.
– Bà Nguyệt hay cho cháu kẹo lạc, – nó nói nhỏ. – Hồi cháu bé ấy.
– Thì đấy.
– Nhưng ông không có kính, ông cũng chẳng giúp gì được. Mai cháu đưa ông đi đo mắt. Không đo thì cháu không cho ông ra đây nữa.
Tôi bảo được. Nó ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh tôi, mở hộp sữa chua uống. Hai ông cháu ngồi nhìn cái cổng sắt xanh im lìm. Ông Hiển đi đi lại lại trước cửa nhà mình, lúc thì tưới mấy chậu hoa giấy, lúc thì đứng nghe điện thoại. Ông ấy có vẻ lo thật. Ông ấy với bà Nguyệt làm hàng xóm sát vách từ hồi ông ấy còn đi học, hồi ông Bỉnh mất, ông ấy là người đứng ra lo cả đám ma.
Thằng Cò ôm cái hộp bút chạy từ đầu ngõ vào. Nó mười hai tuổi, đen nhẻm, quanh năm đi dép lê, hè thì phụ bà nội bán xôi từ sáng đến trưa. Nó đứng trước mặt tôi, ngước lên hỏi bà Nguyệt có về không. Tôi bảo chưa.
– Bà bảo bà còn hai mươi sáu buổi chợ nữa, – nó nói, mếu máo. – Bà mới đi có một buổi.
Nó mở hộp bút cho con Bông xem. Bảy mươi tư con hạc xếp chật trong hộp, tờ năm nghìn, tờ mười nghìn, tờ hai mươi nghìn, con nào cũng cái đuôi gấp hai lần nhọn hoắt, cái cổ ngẩng cao. Con Bông nhặt một con lên, xoay xoay.
– Gấp khéo thế. Chị gấp không được thế này đâu.
– Bà gấp đuôi hai lần, – thằng Cò giảng giải. – Người khác gấp đuôi một lần thôi. Hạc của bà con nhìn là con biết ngay.
– Thế con đếm lại xem có đủ không, – tôi bảo nó, chỉ để cho nó có việc làm cho khỏi khóc.
Nó ngồi xuống vỉa hè đếm. Đếm đúng bảy mươi tư. Nó đóng hộp lại, ôm vào ngực, bảo nó sẽ không tiêu con nào cho đến khi bà về.
Sáu giờ, ông Hiển sang gốc sấu ngồi với tôi. Ông ấy không bày cờ, chỉ ngồi xoa hai đầu gối.
– Anh Triệu, tôi nói cái này anh đừng nói với ai. Tuần trước thằng Lâm nó đưa giấy bắt chị Nguyệt ký bán nhà. Chị ấy không ký, hai bà cháu cãi nhau to. Tôi ở bên kia vách nghe hết.
– Giấy gì?
– Thì giấy đặt cọc với bên công ty khách sạn. Nó cần tiền trả nợ. Chị ấy bảo chị ấy chết thì nó muốn làm gì thì làm.
Ông ấy thở dài, vỗ vai tôi.
– Tôi không dám nói với công an. Nói ra thì tội thằng bé. Nhưng mà nếu chị ấy có làm sao…
Ông ấy bỏ dở câu. Tôi gật đầu, nghĩ đến cái mặt đỏ dần lên của Lâm lúc nó rút căn cước của bà ra khỏi ví mình. Nghĩ đến ổ khoá móc bên ngoài, mà chìa thì Lâm có một cái. Một ông già đội mũ phớt đi ra từ cổng nhà bà Nguyệt, rồi khoá cổng lại bằng chìa. Nếu ông già ấy có chìa của Lâm…
Tôi đang nghĩ thế thì cậu Vượng đến. Cậu ấy không đi xe máy mà đi bộ từ đầu ngõ vào, vẫn sơ mi trắng, tay cầm cái cặp da. Cậu ấy liếc qua cổng nhà bà Nguyệt rồi đi thẳng vào nhà ông Hiển. Ông Hiển đứng dậy, bảo tôi ông ấy về pha nước tiếp khách.
Tôi đứng dậy dọn hàng. Con Bông giúp tôi gấp ghế. Tôi quay lưng ra ngõ, kéo cái tủ gỗ sát vào gốc cây như mọi tối, và như mọi tối, tôi nhìn ngõ qua tấm gương.
Trong gương, ông Hiển và cậu Vượng không vào nhà, mà đứng ở cổng gỗ nói chuyện. Ngõ lúc ấy vắng, gió ngừng, tiếng nói đi qua được cả mặt ngõ hẹp. Tôi nghe thấy giọng cậu Vượng, cái giọng của người quen nói to trong văn phòng.
– Thế bà ấy không về thì việc của em tính sao hả anh?
– Nói nhỏ thôi.
Ông Hiển nói, rồi quay đầu nhìn sang phía gốc sấu. Tôi vẫn đứng quay lưng, tay giữ cái tủ. Trong gương, mắt ông Hiển gặp mắt tôi.
— Hết chương 3 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe