AI Truyện
Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

🔍 Trinh thám

Làng Đông Mai bên sông Đáy

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo · Chương 7/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Làng Đông Mai bên sông Đáy

Xe khách từ bến Yên Nghĩa chạy mất gần hai tiếng, qua mấy cái thị trấn tôi chỉ biết tên trên biển, rồi thả hai ông cháu xuống một cái chợ nhỏ cạnh con đê. Con Bông thuê hai ông xe ôm ở đầu chợ, mỗi ông chở một người, đi tiếp mười cây số theo mặt đê. Bên trái là sông Đáy, nước tháng Bảy đục ngầu như nước vối. Bên phải là bãi ngô, ngô đã trổ cờ, gió thổi rạp xuống như có ai lấy tay vuốt.

Làng Đông Mai nằm trong một khúc sông uốn. Cổng làng có cây gạo to, qua cổng là cái đình mái cong, trước sân đình có một khoảnh đất nện phẳng. Ông xe ôm bảo đấy là chiếu chèo của làng, hội làng tháng Giêng năm nào cũng hát ba đêm.

Con Bông hỏi đường, ông xe ôm chở tôi gật ngay.

– Nhà bà Hoè đào chèo ạ? Ở xóm Bến, ngay sau đình. Nhà có giàn thiên lý.

Nhà bà Hoè là ngôi nhà cấp bốn mái ngói, sân gạch, giàn thiên lý phủ kín một góc sân, hoa vàng rụng lấm tấm trên mặt gạch. Bà Hoè ra mở cổng. Bà thấp hơn bà Nguyệt, béo tròn, mặc áo cánh nâu, tóc cũng búi như bà Nguyệt nhưng nhỏ hơn. Bà nhìn tôi, nhìn con Bông, cái nhìn rất nhanh, từ đầu xuống chân.

– Các ông bà tìm ai?

– Tôi tìm bà Nguyệt.

– Nguyệt nào? – bà Hoè hỏi, giọng ngạc nhiên đến mức nếu tôi không biết trước thì tôi cũng tin. – Chị Nguyệt nhà tôi ở Hà Nội. Hôm trước có cậu công an gọi về hỏi, tôi lo quá, đêm không ngủ được.

Tôi không trả lời ngay. Tôi nhìn qua vai bà, vào trong sân. Trên bậc thềm, cạnh cái chum nước, có một đôi giày da đen mũi tròn đang phơi nắng, to quá cỡ so với chân bất cứ ai trong cái nhà này. Trên cái đinh ở cột hiên, treo một cái mũ phớt nâu.

– Bà Hoè, – tôi nói. – Tôi là Triệu, thợ cắt tóc ở gốc sấu nhà bà Nguyệt. Bà ấy nhờ tôi giữ hộ con hạc. Tôi giữ rồi. Tôi đọc rồi. Hôm nay là thứ Ba.

Bà Hoè đứng im. Cái mặt diễn viên của bà vẫn giữ nguyên vẻ ngạc nhiên, nhưng hai bàn tay bà thì nắm chặt lấy cánh cổng.

Rồi trong nhà có tiếng người nói. Một giọng tôi nghe đã năm mươi năm, lần này không khàn, không nén.

– Cho ông ấy vào, Hoè. Ông ấy tìm được đến đây thì ông ấy không phải người xấu.

Bà Nguyệt ngồi trên cái chõng tre trong gian nhà giữa, mặc áo bà ba màu gụ của bà Hoè, rộng thùng thình. Tóc bà ngắn, gọn, ôm sát đầu, đường tông đơ trên gáy đều tăm tắp. Tóc ấy là tôi cắt. Không có búi tóc, cái đầu bà nhỏ hẳn đi, cái cổ dài ra, khuôn mặt nhìn như mặt một người khác, mà vẫn đúng là bà.

– Ông Triệu, – bà nói. – Ông cắt cho tôi đẹp đấy chứ.

Tôi không nói được gì. Tôi đứng ở bậc cửa, hai tay cầm cái mũ cói, như đứa trẻ đến nhà thầy giáo. Con Bông chạy vào trước, ôm chầm lấy bà Nguyệt, khóc nức nở. Bà vỗ vỗ lưng nó, bảo con bé này to xác thế mà khóc nhè.

Bà Hoè pha ấm chè xanh, bưng ra đĩa lạc rang, rồi ngồi ở đầu chõng, nhìn tôi như nhìn kẻ đến đòi nợ.

– Tôi bảo chị ấy rồi, – bà Hoè nói. – Cái ông thợ cạo ấy thế nào cũng tìm ra.

– Sao bà biết?

– Chị ấy bảo, cả cái ngõ chỉ có ông là nhìn người không bằng mắt.

Bà Nguyệt cười, rót chè cho tôi. Rồi bà bắt đầu kể. Bà kể chậm, rành rọt, như người đã kể lại câu chuyện ấy cho chính mình nghe nhiều lần trong mấy đêm nằm ở nhà bạn.

Chuyện bắt đầu từ ba tháng trước, sau Tết Thanh minh. Một buổi sáng đi chợ về, bà thấy cái lược sừng của bà nằm trong hũ gạo. Bà nhớ rõ sáng hôm ấy chải đầu xong bà đã đặt lược trên bàn trang điểm, như mọi sáng trong năm mươi năm. Bà nghĩ chắc mình nhầm. Hai tuần sau, cái lược lại nằm trong hũ gạo. Rồi đến cái ấm tích. Bà rửa ấm xong để trên bàn nước tầng dưới, đi chợ về thì cái ấm nằm trên bàn thờ ông Bỉnh. Rồi đến cái lịch. Bà xé lịch mỗi sáng sau khi thắp hương. Có hôm đi chợ về, cái lịch đã bị xé thêm ba tờ, tờ trên cùng in chữ rằm đỏ chót. Bà mua hoa, mua oản về cúng rằm, cả ngõ cười.

– Ông có biết cái cảm giác ấy không, ông Triệu? – bà hỏi. – Mình không tin được chính mình. Sáng ra mở mắt, việc đầu tiên là đi kiểm xem hôm qua mình để cái gì ở đâu. Rồi mình bắt đầu sợ. Sợ thật. Tôi đã thấy bà mẹ chồng tôi lẫn. Bà ấy gọi ông Bỉnh là bố, gọi tôi là con bé ở. Tôi thà chết chứ không muốn thế.

Bà sợ, nhưng bà không ngồi chờ. Một tháng trước, bà đi một mình lên bệnh viện, không bảo ai, tự xếp hàng, tự trả tiền, xin khám trí nhớ. Bác sĩ cho bà làm một loạt bài kiểm tra, hỏi ngày tháng, bắt nhớ mấy chữ, bắt vẽ cái đồng hồ. Cuối buổi, cô bác sĩ trẻ bảo bà trí nhớ tốt so với tuổi, chưa thấy dấu hiệu gì phải lo, dặn bà ba tháng nữa quay lại khám.

– Thế thì cái lược, cái ấm, cái lịch là ai? – tôi hỏi.

– Thì tôi cũng hỏi thế, – bà nói. – Tôi về, tôi bắt đầu để ý. Những hôm đồ đạc bị dịch chuyển, bao giờ cũng là hôm tôi đi chợ. Tôi đi chợ mất bốn mươi phút. Bốn mươi phút ấy nhà tôi không có ai, thằng Lâm thì đi chạy xe từ sớm. Tôi khoá cổng, khoá cửa. Thế mà về là có cái gì đấy không nằm đúng chỗ.

Rồi bà kể đến cái đêm cách đây mười ngày. Mười hai giờ đêm, bà thức dậy đi vệ sinh, nghe có tiếng người nói chuyện điện thoại ở ngoài sân, ngay dưới cửa sổ buồng bà. Tiếng đàn ông, nói rất khẽ, khẽ đến mức bà không nghe ra là giọng ai, chỉ nghe được mấy chữ. Bà đứng nép bên cửa sổ, không dám thở mạnh.

– Nó nói: thứ Hai đưa đi giám định. Có kết luận rồi thì toà quyết. Lúc ấy người giám hộ ký gì mà chả được. Bà ấy vào viện dưỡng lão, còn sướng hơn ở một mình.

Bà nhắc lại từng chữ, giọng đều đều, nhưng tay bà cầm chén chè rung lên làm nước sóng sánh.

– Tôi không nhìn thấy mặt, – bà nói. – Tôi ló đầu ra thì sân đã tối om, chỉ nghe cái cổng sắt kêu khẽ một tiếng. Mười hai giờ đêm, có chìa mở cổng nhà tôi, thì còn ai. Thằng Lâm có chìa cổng. Mà mấy hôm trước nó vừa xin tôi cái sổ đỏ.

– Bà không đi báo công an?

– Báo cái gì hả ông? Một bà già bảy mươi chín tuổi lên phường bảo có người bỏ lược vào hũ gạo của tôi? Người ta cười cho. Người ta còn bảo, thấy chưa, bà ấy lẫn thật rồi. – Bà ngừng lại. – Mà nếu đúng là thằng Lâm, tôi không muốn nó đi tù. Tôi nuôi nó ba năm hồi nó bé. Tôi chỉ muốn đi khỏi đấy trước cái ngày thứ Hai. Không có tôi thì không ai đưa tôi đi giám định được.

– Còn cái búi tóc? – con Bông hỏi.

Bà Nguyệt cúi đầu, đưa tay sờ cái gáy ngắn của mình.

– Tóc ấy tôi nuôi từ năm mười sáu tuổi, từ ngày vào đoàn. Ông Bỉnh bảo ông lấy tôi vì cái búi tóc. – Bà cười nhẹ. – Tôi cắt để ông ấy giữ. Tôi khấn với ông ấy, bao giờ tôi về được nhà mình, đường đường chính chính, không ai bảo tôi lẫn, thì tôi mới để tóc lại.

Tôi ngồi im một lúc lâu. Ngoài sân, gió từ sông thổi vào, giàn thiên lý rung rung, mấy bông hoa vàng rơi xuống chén chè của tôi. Con Bông nhìn tôi, rồi nhìn bà Nguyệt. Tôi biết đến lúc phải nói ra cái điều mà Thành cho tôi xem tối qua.

Tôi kể. Tôi kể về tờ giấy của toà án, về lá đơn nộp từ ba tuần trước. Về cái tên đứng trên lá đơn.

Bà Nguyệt nghe xong thì không khóc. Bà chỉ đặt chén chè xuống chõng, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn ra cái sân gạch đầy hoa thiên lý rụng. Bà Hoè đưa tay nắm lấy tay bạn.

– Thằng Lâm, – bà Nguyệt nói, rất khẽ. – Thằng Lâm thật à.

– Đơn đứng tên nó, – tôi nói. – Nhưng tôi chưa dám chắc nó là người đứng ngoài sân đêm ấy.

– Sao ông không dám chắc?

– Thằng Lâm chạy xe đêm. Cái ứng dụng gọi xe nó ghi lại từng cuốc. Chú Thành xem được. Mà còn một chuyện nữa. Đêm Chủ nhật vừa rồi có người cầm đèn pin lục nhà bà. Cổng vẫn khoá bên ngoài. Cửa sân thượng thì mở then.

Bà Nguyệt quay phắt lại nhìn tôi.

– Lục cái gì?

– Lục va li ông Bỉnh dưới gầm giường. Lục tủ. Ông Hiển hôm qua còn hỏi tôi bà cất giấy tờ nhà ở đâu.

Bà Nguyệt không nói gì. Bà với tay lấy cái túi vải nâu đặt ở đầu chõng, cái túi đi lễ chùa mà ông Thập thấy ông khách ôm trên ghế chờ xe buýt. Bà mở túi, rút ra một cái phong bì nhựa, trong đó có tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bìa hồng, gấp làm đôi.

– Tôi mang theo, – bà nói. – Đi thì phải mang cái này theo. Ông Bỉnh dặn thế.

Tôi nhìn cái phong bì. Rồi tôi hỏi bà câu cuối cùng mà tôi đã định hỏi từ lúc bước vào cổng.

– Bà Nguyệt, ngoài bà với thằng Lâm, còn ai giữ chìa khoá nhà bà nữa không?

Bà ngẩn ra, như người được hỏi một điều quá hiển nhiên.

– Thì anh Hiển. Hồi tôi mổ mắt, tôi đưa anh ấy một chùm để sang tưới cây, cả chìa cổng lẫn chìa cửa. Khỏi mắt tôi bảo trả, anh ấy bảo cứ để anh giữ, chị ở một mình, nhỡ ngã trong nhà còn có người vào. Tôi thấy cũng phải. Anh ấy vẫn giữ đến giờ.

Tôi đặt chén chè xuống. Ngoài sân, một bông thiên lý nữa rơi xuống mặt gạch, không có tiếng động nào.

Hôm thứ Sáu, trước mặt tôi và Thành, ông Hiển đã giơ hai tay lên mà nói rằng ông ấy trả chìa khoá lâu rồi.

— Hết chương 7 —

Mục lục Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo

  1. 1Ngôi rẽ bên nào12 phút đọc
  2. 2Cái cổng khoá từ bên ngoài10 phút đọc
  3. 3Búi tóc trên bàn thờ10 phút đọc
  4. 4Ông cụ đi giày rộng10 phút đọc
  5. 5Cửa sân thượng không cài then9 phút đọc
  6. 6Ông khách cuối ngày10 phút đọc
  7. 7Làng Đông Mai bên sông Đáy9 phút đọc
  8. 8Những buổi sáng ông Hiển đi tưới cây10 phút đọc
  9. 9Cái chìa trong hũ gạo10 phút đọc
  10. 10Cái hòm áo chèo trên gác xép9 phút đọc
  11. 11Con hạc thứ hai9 phút đọc

Về truyện này

Con hạc gấp trong hộp tiền ông thợ cạo là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →