Chương 1: Ngôi rẽ bên nào
– Ông Triệu, ông rẽ ngôi cho tôi sang bên trái đấy à? Năm mươi năm nay tôi rẽ bên phải!
Ông Kính giáo về hưu ngồi trên ghế, hai tay bấu vào thành ghế như sợ tôi cắt luôn cả tai. Tôi đặt cái lược xuống, xoay vai ông ấy nhìn thẳng vào tấm gương treo trên thân cây sấu.
– Ông nhìn trong gương thì nó bên trái. Ngoài đời nó bên phải. Ông dạy toán bốn mươi năm mà không biết cái gương nó nói ngược à?
– Tôi biết cái gương nó ngược. Ông sờ cái xoáy trên đầu tôi xem nó nằm bên nào.
Tôi sờ. Cái xoáy nằm bên phải. Cái ngôi tôi vừa rẽ nằm bên trái. Ghế chờ cười ồ. Thằng Cò bưng mẹt xôi cho bà nội ở đầu ngõ cũng ngoái lại cười theo.
Tôi cắt tóc dưới gốc sấu này đã năm mươi hai năm. Tấm gương thì đã thay bốn lần, lần nào cũng treo đúng một cái đinh, cao ngang mắt người ngồi. Khách ngồi quay mặt vào thân cây, lưng quay ra ngõ. Tôi đứng sau khách, cũng quay lưng ra ngõ. Muốn biết ngoài ngõ có gì thì nhìn vào gương. Cái cổng sắt sơn xanh nhà bà Nguyệt, cái cổng gỗ nhà ông Hiển, xe bánh mì của con bé Thơm, tôi đều thấy trong gương, thấy ngược. Năm mươi hai năm, đầu tôi tự lật lại cho đúng, như người đi xe đạp không cần nghĩ mới giữ được thăng bằng.
Chỉ thỉnh thoảng nó lật nhầm, như sáng nay với cái ngôi của ông Kính.
Tôi chải lại, rẽ sang bên phải cho ông ấy, xịt tí nước, vuốt cho nếp. Ông Kính soi đi soi lại rồi gật đầu, đứng dậy, móc ví đưa tờ năm mươi nghìn. Tôi thối lại mười nghìn. Cắt ở gốc sấu này bốn mươi nghìn, cạo râu thêm mười nghìn.
Tháng Bảy, sấu chín vàng. Đêm qua có trận mưa rào, sáng ra quả sấu rụng lổn nhổn trên vỉa hè, trên mái tôn nhà ông Hiển, trên cả cái hộp sắt đựng tiền của tôi. Tôi cúi nhặt quả sấu trong hộp ra thì nghe tiếng dép quen thuộc đi qua sau lưng. Không cần nhìn gương tôi cũng biết là bà Nguyệt đi chợ. Bảy giờ kém năm, sáng nào cũng thế, mưa cũng thế, rét cũng thế.
– Ông Triệu ơi, sấu nhà tôi rụng vào hộp tiền của ông thì ông trả tôi tiền sấu nhé.
Bà Nguyệt cười, cái cười của người đã đứng trên chiếu chèo gần bốn mươi năm, mở ra là cả ngõ nghe thấy. Bà bảy mươi chín tuổi, người gầy, tóc bạc trắng búi gọn sau gáy, búi to bằng nắm tay, cài một cái trâm sừng đen. Đi ngang qua tôi là ngửi thấy mùi dầu bưởi. Cả đời bà gội đầu bằng nước bồ kết và chải dầu bưởi tự ngâm, bảo là thói quen của đào chèo, tóc phải đen, phải bóng, phải nặng mới quấn được khăn.
Cây sấu này là của nhà bà. Ông Bỉnh chồng bà trồng năm sáu mươi sáu, cái năm hai người mới cưới, bằng một cây con xin ở làng. Ông Bỉnh mất mười một năm nay, cây thì cao quá mái nhà ba tầng. Tôi ngồi dưới gốc từ năm bảy tư, hồi cây mới to bằng bắp đùi. Bà Nguyệt chưa đòi tiền thuê đất của tôi bao giờ, chỉ thỉnh thoảng đòi tiền sấu cho vui.
Bà dừng lại cạnh gốc cây, ghé tai tôi nói nhỏ:
– Ông biết không, chiều qua tôi tìm cái lược sừng chải đầu mãi không thấy. Cuối cùng nó nằm trong hũ gạo.
– Bà đong gạo rồi để quên trong đấy chứ gì.
– Tôi không đong gạo từ hôm kia. Cơm thằng Lâm nó mua ngoài hàng.
Bà nói rồi cười, nhưng cái cười lần này không mở ra hết. Tôi định hỏi thêm thì ông Hiển ở bên cạnh đã lên tiếng. Ông Hiển ngồi ở bàn cờ tướng kê sát gốc sấu, bàn cờ ấy cũng là của tôi, chiều nào hết khách tôi cũng đánh với ông ấy dăm ván. Sáng nay ông ấy đánh với ông Kính.
– Chị Nguyệt dạo này hay quên thật đấy. Có lần chị còn sang hỏi tôi hôm nay có phải rằm không, trong khi rằm còn những ba hôm.
– Cái lịch nhà tôi nó bảo hôm ấy là rằm, – bà Nguyệt nói. – Tờ lịch đỏ chót, tôi không mù.
– Thì chị xé lịch nhầm. Già rồi ai chả thế. Tôi cũng có lần cầm điện thoại đi tìm điện thoại.
Ông Hiển nói nhẹ nhàng, giọng của người làm phòng văn hoá ba mươi năm, ai nghe cũng thấy dễ chịu. Bà Nguyệt không cãi, chỉ khẽ chép miệng rồi đi về phía đầu ngõ. Đến chỗ mẹt xôi, bà dừng lại mua một gói xôi lạc, rồi móc trong túi áo ra một tờ tiền gấp thành con hạc, dúi vào tay thằng Cò.
Đấy là cái thói của bà Nguyệt mà cả ngõ biết. Tiền lẻ bà không để phẳng, bà gấp thành con hạc. Bà bảo hồi trong đoàn, trước mỗi đêm diễn, các cô đào gấp hạc giấy cho may. Không có giấy thì gấp tiền. Bà gấp quen tay đến mức ngồi nói chuyện cũng gấp, tay cứ lật lật, miết miết, nói xong một câu là xong một con hạc. Con hạc của bà khác hạc người khác ở cái đuôi: bà gấp đuôi hai lần, nhọn như mũi kim. Thằng Cò được bà cho hạc đã mấy năm, nó không tiêu, nó cất hết trong cái hộp bút, bảo để dành đến khi đủ một trăm con.
– Cò, con bao nhiêu con rồi?
– Bảy mươi tư con ạ, bà ơi!
– Còn hai mươi sáu con nữa. Bà còn sống được hai mươi sáu buổi chợ nữa là con đủ.
– Bà nói thế không hay đâu, – bà nội thằng Cò mắng yêu.
Bà Nguyệt cười, vừa đi vừa ngân nga một câu gì đấy rất khẽ, một làn chèo mà tôi nghe đã năm mươi năm nhưng chưa bao giờ nhớ được tên. Cái đuôi búi tóc trắng của bà khuất sau xe bánh mì.
Tôi nhớ rõ từng thứ ấy, vì đó là lần cuối cùng tôi thấy bà Nguyệt đi chợ với cái búi tóc trên đầu.
Khoảng tám giờ, khi tôi đang cạo râu cho ông Thập xe ôm thì người của phường xuống. Ba cậu đội trật tự đô thị mặc áo xanh, một cậu cầm loa, một cậu cầm thước dây, một cậu cầm tập giấy. Phường đang làm đợt lập lại trật tự vỉa hè.
– Bác ơi, bác cắt tóc ở đây bao lâu rồi ạ?
– Lâu hơn tuổi bố cháu.
– Thế thì bác càng phải gương mẫu, – cậu cầm loa nói, rất lễ phép. – Phường thông báo đến hết tháng này các hộ kinh doanh trên vỉa hè phải thu gọn, chừa lối đi một mét rưỡi cho người đi bộ. Bàn cờ, ghế chờ, cái tủ này của bác lấn ra lòng đường rồi.
Cậu cầm thước dây kéo thước từ chân tường trường tiểu học ra mép vỉa hè, kéo đến đâu lùi đến đấy, lùi một bước thì va vào cái tủ gỗ của tôi. Cái tủ chỉ cao ngang hông, trên nóc tôi để kéo, lược, tông đơ, lọ nước hoa hồng và cái kính lão. Tủ chao đi. Cái kính lão rơi xuống vỉa hè, đúng chỗ có một quả sấu, và cậu ấy lùi thêm một bước nữa.
Tôi nghe tiếng rắc dưới đế giày cậu ấy.
– Chết, cháu xin lỗi bác! Cháu đền bác!
– Thôi, kính nhặt ở chợ trời có ba chục nghìn, – tôi nói. – Cháu đền thì tôi lại phải đi chợ trời lấy cái khác, mất công.
Thật ra cái kính ấy tôi đeo chín năm, đo đúng độ. Nhưng cậu ấy còn trẻ, mặt đỏ tía lên vì ngượng. Tôi nhặt cái gọng lên, hai mắt kính vỡ nát, chỉ còn mấy mảnh dính vào gọng. Tôi bỏ vào ngăn kéo.
Mắt tôi nhìn xa thì vẫn tinh, đứng đầu ngõ đọc được biển số xe cuối ngõ. Nhưng nhìn gần thì từ năm sáu mươi đã phải đeo kính. Không có kính, tôi vẫn cắt tóc được, vì năm mươi năm tay tôi biết đầu người còn hơn mắt tôi. Có điều cạo râu thì phải cẩn thận gấp đôi, còn mặt khách thì ngồi sát mình mà cứ nhoè nhoè như nhìn qua kính bị hơi nước.
Cháu nội tôi, con Bông, biết chuyện thì gọi điện mắng tôi một trận. Nó mười chín tuổi, học thiết kế ở trường đại học, nói cái gì cũng nhanh như máy khâu.
– Ông ơi, phường dẹp thì ông nghỉ đi. Ông bảy mươi tư rồi, ông ngồi vỉa hè từ sáng đến tối, nắng thì nắng, mưa thì mưa, bây giờ lại không có kính. Chiều cháu về cháu đưa ông đi cắt kính, rồi ông ở nhà cho cháu nhờ.
– Hai năm bà mày mất, ông ở nhà có ba tuần là ông ốm. Ra đây cắt tóc là ông khỏi.
Nó thở dài, bảo chiều nó qua. Rồi chiều nó lại nhắn phải ở lại trường làm đồ án.
Buổi trưa trong ngõ có chuyện thứ ba, mà lúc ấy tôi không để ý. Cậu Vượng bên công ty khách sạn lại đến. Áo sơ mi trắng cắm thùng, đầu vuốt keo cứng như mũ bảo hiểm. Công ty cậu ấy đang mua lại cả dãy nhà bên kia ngõ để xây khách sạn. Nhà ông Kính bán rồi, ông ấy dọn sang ở với con, ngày nào cũng quay về đánh cờ, cửa nhà cũ khoá chờ đập. Nhà đầu ngõ bán rồi. Chỉ còn nhà bà Nguyệt ở giữa, với nhà ông Hiển sát vách bên trái, là chưa ký. Ông Hiển bảo ông ấy đang cân nhắc. Bà Nguyệt thì bảo cây sấu ông Bỉnh trồng còn đứng đây ngày nào thì bà còn ở đây ngày ấy.
Cậu Vượng sang nhà ông Hiển uống nước, ngồi chừng nửa tiếng, rồi đứng ở cổng gọi điện, tay chỉ chỉ vào tường nhà bà Nguyệt. Lâm cháu bà Nguyệt lúc ấy đang dắt xe ra đi chạy khách. Tôi thấy trong gương cậu Vượng vẫy Lâm lại, hai người nói gì đấy chừng năm phút, Lâm cúi gằm mặt rồi nổ máy đi thẳng.
Lâm ba mươi chín tuổi, là cháu ngoại của chị gái bà Nguyệt, gọi bà bằng bà. Bà Nguyệt không có con. Năm ngoái Lâm ly hôn, mất việc ở xưởng in, về ở với bà, chạy xe ôm qua ứng dụng gọi xe. Cả ngõ biết nó nợ nần. Đã hai lần có người lạ đến đập cổng đòi tiền lúc nửa đêm. Nhưng nó lễ phép, sáng nào cũng ra mua xôi cho bà. Ông Hiển thì không ưa nó. Ông bảo thằng ấy về ở là vì cái nhà chứ không phải vì bà.
Chiều hôm ấy bà Nguyệt không ra cổng lần nào. Cũng không lạ, trời nắng gắt, bà hay ngủ trưa dài. Sáu rưỡi, ông Hiển dắt xe đạp ra, bảo tôi tối nay sang nhà con trai ăn giỗ bên vợ nó, mai mới về, nhờ tôi để mắt cái cổng. Ông ấy đi rồi thì ngõ vắng. Khách cuối cùng của tôi chiều ấy là một cậu sinh viên, tôi cắt kiểu đầu nấm theo ảnh cậu ấy giơ lên điện thoại, cắt mất bốn mươi phút vì không có kính.
Lúc tôi đang phủi tóc cho cậu sinh viên thì trong gương, ở phía bên trái của hai cái cổng, có một ông cụ đi ra.
Trời đã tắt nắng. Đèn đường chưa sáng hẳn. Mắt tôi không kính, nhìn xa thì vẫn được, nhưng trong gương, cái gì cũng mờ một lớp. Tôi chỉ thấy ông cụ mặc áo ka ki bạc màu, đội cái mũ phớt nâu sụp xuống trán, đeo khẩu trang. Ông ấy đứng quay lưng ở cổng một lúc, rồi đi chầm chậm sang phía gốc sấu. Tôi nghĩ là khách nhà ai đến chơi. Cậu sinh viên trả tiền đi rồi, ông cụ ngồi xuống ghế.
– Cụ cắt kiểu gì ạ?
– Cắt gọn, – ông cụ nói, giọng khàn đặc như người mới ốm dậy. – Cắt gọn cho tôi.
Tôi bỏ mũ của ông cụ ra. Tóc ông ấy bạc trắng, mà cắt nham nhở như ai cầm kéo cắt cá cắt hộ, chỗ dài đến cằm, chỗ ngắn trơ chân tóc. Tôi chải, tỉa, đưa tông đơ lên gáy. Sợi tóc trơn như tơ. Ông ấy ngồi im, cúi mặt xuống suốt, mắt nhắm, không nhìn vào gương lần nào. Tôi tưởng ông ấy buồn ngủ.
Cắt xong tôi phủi gáy, đội mũ lại cho ông. Ông ấy đứng dậy, móc trong túi ra tiền, đặt vào cái hộp sắt, rồi nói một câu gì rất khẽ mà tôi nghe không rõ, hình như có chữ "ông thợ". Rồi ông đi ra phía đầu ngõ, bước lệt sệt như đi giày rộng. Tôi quét đám tóc dưới chân ghế vào sọt, đóng tủ, khoá xích, kẹp hộp tiền dưới nách mang về như mọi tối, chẳng mở ra đếm.
Sáng hôm sau, sáu giờ, tôi vừa dựng cái ghế lên thì cổng sắt xanh mở toang. Lâm chạy ra, áo may ô, chân đất, mặt trắng bệch.
– Ông Triệu ơi! Bà cháu đâu rồi? Tối qua ông ngồi đây đến tối, ông có thấy bà cháu đi đâu không?
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe