Chương 10: Năm mươi tám bao ngô dưới trăng
Chị Hợp ngồi ở bếp với mẹ đến hai giờ sáng. Hai đứa con chị ngủ trên giường anh Thuần, còn anh Thuần với tôi trải chiếu nằm ở gian giữa, cạnh mâm cơm rằm đã dọn. Qua tấm vách gỗ, tôi nghe tiếng hai mẹ con nói chuyện, lúc rõ lúc không.
Chị kể đại lý nợ nhà máy từ đầu năm. Anh Kha bảo chỉ là nợ gối đầu, đại lý nào cũng thế. Chị kể căn nhà của hai vợ chồng dưới phố đã đem thế chấp từ năm ngoái để vay tiền làm homestay trên mảnh đất anh mua ở chân đồi bên kia. Mảnh đất ấy đến giờ vẫn chỉ có mấy cái cột bê tông trơ trọi. Chị kể chị không biết gì về ngô. Chị kể tối nay về đến nhà, anh Kha uống hết nửa chai rượu, đập vỡ cái kính bàn uống nước, rồi ngồi giữa đống mảnh kính mà khóc. Chị dọn mảnh kính, đắp chăn cho chồng, rồi chở hai đứa con lên đây.
– Con không bỏ anh ấy, mẹ ạ. – Chị nói. – Con chỉ không ở cùng anh ấy đêm nay được.
Mẹ chồng tôi nói gì đó rất nhỏ. Rồi tôi nghe tiếng chị Hợp khóc, thứ tiếng khóc của một đứa con gái chứ không phải của một người đàn bà ba mươi lăm tuổi có hai con.
Sáng Chủ nhật, lúc tôi đang trộn cám, chị Hợp ra đứng cạnh, cầm cái xẻng nhỏ xúc chất hấp phụ vào thùng phuy cho tôi. Chị không nhìn tôi.
– Bữa cơm Chủ nhật hai tuần trước, chị nói em bóng gió chồng chị. – Chị nói. – Hoá ra em chẳng bóng gió gì cả. Em nói thẳng, có điều chị không chịu nghe.
– Chị nghe rồi đấy thôi.
Chị dừng tay, nhìn đàn bò đang xếp hàng vào dàn vắt.
– Bố còn sống mà thấy chuyện này, chắc bố buồn lắm. – Chị nói. – Bố quý anh Kha lắm. Hồi cưới, bố bảo thằng này nó lanh, nó sẽ làm được việc lớn.
– Anh ấy lanh thật mà chị.
Chị cười, một cái cười méo, rồi lại cúi xuống xúc tiếp.
Bảy giờ sáng, mẹ chồng tôi gọi điện cho anh Pầng. Tôi đứng ở hiên, nghe bà nói đúng ba câu. Anh Pầng à. Tôi sai. Anh về làm đi. Rồi bà im lặng nghe một lúc lâu, gật đầu dù đầu bên kia không nhìn thấy, rồi cúp máy.
Trưa hôm ấy anh Pầng về, chở theo con bé Ín ngồi sau ôm cái chăn bông. Mẹ chồng tôi ra tận cổng. Bà đưa cho anh một cái phong bì, bảo tiền lương tháng này với tháng sau, tiền tôi đuổi anh oan. Anh không cầm. Bà dúi vào tay con bé Ín. Con bé nhìn bố. Anh Pầng gật đầu. Rồi anh đi thẳng ra dãy chuồng cũ, đứng trước ô của con Mộc, vỗ lưng nó hai cái. Con bê đang bú ngẩng lên nhìn anh, cái đuôi ngoe nguẩy.
Chiều Chủ nhật, chị Mận gọi. Sáng thứ Hai nhà máy cử một tổ ba người lên lập biên bản, cân và chở toàn bộ năm mươi tám bao ngô về làm vật chứng. Chị dặn đừng ai động vào niêm phong.
Tôi ngồi ở hiên nghĩ rất lâu. Rồi tôi đi tìm anh Pầng.
– Anh Pầng, đêm nay em nghĩ có người lên nhà sấy.
Anh nhìn tôi, không hỏi ai.
– Em canh, – anh nói.
– Em canh với anh.
Anh Thuần biết chuyện thì đòi đi cùng. Ba người chúng tôi lên đồi lúc mười một giờ đêm, không bật đèn, mặc áo khoác dày, mang theo một phích nước chè và mấy củ khoai lang nướng mẹ chồng tôi vùi trong bếp than. Bà không hỏi chúng tôi đi đâu. Bà chỉ đưa túi khoai cho anh Thuần, dặn mặc thêm áo.
Chúng tôi ngồi trong bụi chè già cách nhà sấy chừng hai chục bước, chỗ có thể nhìn thấy cả cửa chính lẫn con đường đất mòn chạy vòng ra phía sau đồi. Con đường ấy dẫn xuống một cái bản nhỏ ở sườn bên kia, rồi nối ra quốc lộ. Xe đi đường ấy lên đồi thì không phải qua sân nhà tôi, không con chó nào sủa.
Trời quang, rét ngọt. Trăng mười sáu còn tròn, sáng đến mức thấy rõ từng bông lau trắng trên sườn đồi. Anh Thuần ngồi sát cạnh tôi, thỉnh thoảng lại kéo cổ áo khoác của tôi lên cho kín. Anh Pầng ngồi im như một gốc chè.
Gần mười hai giờ, anh Thuần thì thầm với tôi, như sợ làm động bụi chè. Anh kể hồi anh mười tuổi, bố dắt anh lên đúng chỗ này hái mẻ chè đầu tiên. Chè đồi này chát lắm, bố pha ra, cả nhà uống một ngụm rồi nhăn mặt, chỉ có mẹ uống hết cả ấm, bảo chè nhà mình thì phải uống chứ. Anh bảo từ ngày bố mất, mẹ không lên đồi này lần nào nữa, cho đến cái đêm bà mang tám mươi bao ngô lên giấu. Anh bảo chắc mẹ chọn chỗ này vì không ai lên. Tôi nghĩ có lẽ còn một lý do khác. Người ta hay giấu cái điều mình xấu hổ nhất vào chỗ của người mình không muốn làm cho thất vọng nhất.
Một giờ mười lăm, có ánh đèn xe ở phía sau đồi. Nó leo lên rất chậm, đèn pha lúc chiếu lên trời lúc chúc xuống đất, rồi tắt hẳn khi còn cách nhà sấy chừng trăm mét. Tiếng máy vẫn nổ, rồi tắt.
Một người đàn ông đi bộ lên, vác theo cái xà beng. Tôi nhận ra dáng anh Kha trước khi nhận ra mặt. Anh đi một mình.
Anh đứng trước cửa nhà sấy rất lâu, nhìn cái ổ khoá và mấy sợi dây niêm phong có kẹp chì của nhà máy. Rồi anh đặt mũi xà beng vào khe cửa, bẩy. Tiếng gỗ kêu răng rắc vang khắp đỉnh đồi. Cánh cửa bật ra.
Anh đi vào, bật đèn điện thoại. Một lúc sau anh đi ra, trên vai vác một bao ngô. Anh đi xiêu vẹo xuống chỗ đỗ xe, chừng trăm mét, rồi quay lại. Bao thứ hai. Bao thứ ba. Đến bao thứ sáu, anh đứng lại giữa đường, đặt bao ngô xuống, chống hai tay lên đầu gối, thở. Tôi nghe được tiếng anh thở từ chỗ bụi chè. Năm mươi tám bao, mỗi bao năm mươi cân, một mình. Anh hẳn đã biết là không thể. Anh vẫn đến.
Anh ngồi phịch xuống bao ngô thứ sáu, giữa đường đất, dưới trăng.
Tôi đứng dậy. Anh Thuần nắm tay tôi, rồi đứng dậy theo. Anh Pầng đi sau cùng.
Anh Kha nghe tiếng chân, ngẩng lên. Anh không bỏ chạy. Anh nhìn ba chúng tôi như nhìn ba cái bóng.
– Em đoán được à? – Anh hỏi tôi.
– Vâng.
Anh gật đầu, cười một tiếng khô khốc.
– Em giỏi thật.
– Anh Kha. – Tôi nói. – Năm mươi tám bao ngô này nhà máy đã chụp ảnh, ghi mã lô, cân mẫu từ chiều thứ Sáu. Anh có chở đi hết cũng không mất được cái gì. Anh chỉ thêm một tội phá niêm phong.
Anh nhìn cánh cửa nhà sấy đã bị bẩy bung ra, như bây giờ mới thấy nó.
– Anh biết. – Anh nói. – Anh biết từ lúc đứng trước cái cửa. Anh vẫn bẩy.
Anh Thuần ngồi xuống bao ngô bên cạnh anh rể. Anh Pầng đứng yên ở mép đường.
Một lúc lâu, anh Kha nói, mắt nhìn xuống thung lũng.
– Bố anh ngày xưa đánh xe bò chở vôi dưới phố. Uống rượu, nợ khắp chợ. Cả cái phố gọi anh là thằng con lão Tửu say. Anh mở đại lý năm hai mươi sáu tuổi, vay từng đồng. Anh lấy chị Hợp, lên đây ra mắt, mẹ là người đầu tiên trong đời gọi anh là con bằng cái giọng khoe. Mẹ đi đâu cũng khoe thằng rể tôi. Em hiểu không?
Tôi không trả lời.
– Rồi em lên. – Anh nói. – Mẹ chê em đủ thứ, con gái ông thiến lợn, tay hôi mùi bò, đi lang thang chuồng nhà người ta. Nhưng con nào ốm, mẹ đứng ở cửa chuồng nhìn em chữa. Mẹ khen anh suốt, mà mẹ chưa hỏi anh cái gì bao giờ. Cái homestay ấy, anh làm để mẹ có cái mà khoe tiếp. Nợ nó cứ đẻ ra. Trận bão vào kho, anh đứng giữa mười bốn tấn ngô ngập đến bắp chân mà nghĩ đến cái hạn trả nợ. Anh nghĩ ngô ẩm thì chỉ là ẩm thôi. Bò nhà ai chả ăn ngô. Mấy cái trại nhỏ ấy ai kiểm tra.
– Bò nhà ông Sính có kiểm tra, anh ạ. – Tôi nói. – Trạm sữa kiểm tra. Con bò nó kiểm tra bằng cái gan của nó.
Anh Kha cúi đầu xuống. Hai bàn tay anh, đôi bàn tay hồi trước không bao giờ dính bùn, giờ đen nhẻm bụi bao tải.
– Anh định làm thế nào với mấy nhà kia? – Anh Thuần hỏi. Giọng anh không giận, chỉ mệt.
– Anh không biết.
– Thì anh nghĩ đi, – anh Thuần nói. – Mấy nhà đổ sữa ra rãnh mấy tuần liền. Nhà ông Sính vay vốn mua bò. Anh nghĩ cho ra một con số, rồi anh xuống từng nhà mà trả.
Anh Kha ngẩng lên nhìn em vợ, như lần đầu nhìn thấy anh.
Anh Pầng đi đến chỗ cái bao ngô thứ sáu, cúi xuống vác nó lên vai, đi ngược lên đồi, đặt lại vào nhà sấy. Rồi anh quay xuống, vác bao thứ năm. Anh Thuần đứng dậy vác bao thứ tư. Anh Kha nhìn hai người một lúc, rồi đứng dậy, đi xuống chỗ đỗ xe, vác một bao từ thùng xe lên.
Tôi đứng giữa đường đất, cầm cái đèn pin, soi đường cho ba người đàn ông vác ngô mốc trả lại chỗ cũ.
Khi bao cuối cùng đã nằm lại trong nhà sấy, anh Thuần lấy sợi dây thừng buộc tạm hai cánh cửa bị bẩy. Có ánh đèn pin đi từ phía dưới đồi lên, chậm rãi, lắc lư. Mẹ chồng tôi. Bà khoác cái áo bông của bố chồng tôi, tay cầm phích nước nóng.
Bà nhìn cánh cửa, nhìn anh Kha, nhìn cái xà beng dưới đất. Bà không hỏi gì. Bà rót nước nóng ra cái nắp phích, đưa cho anh Kha trước, rồi đến anh Thuần, anh Pầng, tôi.
Rồi bà nói, không nhìn ai cụ thể:
– Sáng mai trước khi người nhà máy lên, con Gieo đi với mẹ xuống công ty sữa. Mẹ tự khai.
— Hết chương 10 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe