Chương 9: Bà Hảo ngồi trước khung cửi
Bà Hảo đến nhà kho vào một buổi chiều thứ Tư, không báo trước.
Lanh đang đứng trên cái ghế đẩu, thay một tập bìa trên đầu khung, thì nghe cô Thơm ở dưới gọi khẽ: cô Lanh ơi. Giọng cô Thơm lạ, như người thấy rắn. Lanh quay lại. Ở cửa nhà kho, trong vệt nắng xiên chiều đông, bà Hảo đứng đó, áo bông màu tím than, khăn len quấn cổ, tay xách cái làn nhựa đựng mấy quả cam.
Cụ Nhâm đang ngồi dưới gầm khung, thò đầu ra, nhìn thấy, rồi lặng lẽ thụt vào.
– Mẹ. – Lanh bước xuống ghế, chùi hai tay vào tạp dề. – Mẹ sang có việc gì ạ?
– Mẹ sang xem. Không được à?
– Dạ được ạ. Mẹ vào đi mẹ.
Bà Hảo bước vào. Bà không nhìn Lanh, không nhìn cô Thơm, không nhìn bà Dậu đang ngồi đục bìa ở góc. Bà nhìn cái khung gỗ lim. Bà đi một vòng quanh nó, chậm rãi, như cụ Nhâm hôm đầu tiên. Bà đưa tay sờ cái ngực khung, chỗ gỗ mòn lõm xuống.
– Khung nhà ông Dậu đây mà. – Bà nói. – Năm mười bảy tuổi mẹ dệt thuê cho nhà này một mùa. Hồi ấy ông Dậu còn sống, bà Dậu còn trẻ, chửi thợ ác lắm.
Bà Dậu ở góc nhà ngẩng lên, nheo mắt nhìn, rồi bật cười, cái cười móm mém.
– Con Hảo nhà ông Chỉ đấy à? Cái con bé dệt nhanh mà hay khóc?
– Vâng, cháu đây.
– Ối giời, con bé hay khóc giờ thành bà chủ xưởng to nhất làng. Ngồi đây, ngồi đây. Tôi chửi ác thật, nhưng tôi trả công đủ.
Bà Hảo ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh bà Dậu. Hai bà già nói chuyện về những người đã chết, về cái giếng đầu làng đã lấp, về mùa lũ năm bảy mươi mốt. Lanh đứng một bên, không biết nên làm gì với hai tay mình. Cô Thơm ra hiệu, cô quay lại khung, tiếp tục thay bìa. Cụ Nhâm từ dưới gầm khung chui ra, chào bà Hảo một câu, rồi ra sân hút thuốc lào.
Một lúc lâu, bà Hảo đứng dậy, bước đến bên cái khung đang dệt dở. Trên trục cuộn, một tấm lụa màu vàng nghệ đã dệt được non nửa, mẫu thứ năm của dòng Mây Bắc Sơn: những cánh đồng lúa chín trải dài, một bờ suối uốn lượn, và trên bờ suối, ở hàng mười hai, cột bảy, một con cò co chân.
– Cho mẹ ngồi một tí.
Cô Thơm nhìn Lanh. Lanh gật đầu. Cô Thơm đứng dậy, nhường chỗ.
Bà Hảo ngồi xuống cái băng ghế gỗ trước khung. Bà cởi khăn len, đặt lên đùi, xắn tay áo bông lên. Hai bàn tay to, chai, nổi gân xanh, đặt lên ngực khung, đúng chỗ gỗ mòn lõm. Bà ngồi im một lúc, như người đang nhớ lại một bài hát. Rồi chân bà đạp xuống bàn đạp, tay phải đưa con thoi.
Cạch. Kẹt. Cạch. Kẹt.
Con thoi chạy qua, chạy lại. Sợi ngang nằm xuống, cái go nâng lên, cái lược đập vào. Tay bà Hảo không nhanh, nhưng đều, không lệch một nhịp. Lanh nhìn tấm lụa vàng nghệ dày thêm từng sợi, từng sợi, dưới tay người đàn bà sáu mươi tư tuổi đã bốn mươi năm không ngồi trước khung cửi.
Bà dệt được chừng hai chục hàng thì dừng lại. Bà nhìn xuống mặt lụa, nhìn rất lâu vào cái điểm nhỏ trên bờ suối.
– Con cò này. – Bà nói. – Con cò co chân này. Thằng Cương bảo là lỗi máy.
– Không phải lỗi máy đâu mẹ ạ.
– Mẹ biết. Mẹ dệt bốn mươi năm, mẹ biết lỗi máy nó trông thế nào. Lỗi máy không đứng đúng một chỗ trong mười bốn tấm khăn. – Bà vẫn nhìn mặt lụa. – Mẹ cũng biết khăn của ai. Mẹ thấy con thức. Ba giờ sáng mẹ dậy đi vệ sinh, đèn phòng kỹ thuật vẫn sáng. Mẹ biết hết.
Lanh đứng im. Cô Thơm và bà Dậu đã lặng lẽ đi ra sân với cụ Nhâm từ lúc nào.
– Thế sao mẹ...
– Sao mẹ để thằng Cương ghi tên nó à? – Bà Hảo xoay người trên băng ghế, lần đầu tiên nhìn thẳng con dâu. – Vì mẹ tưởng thế là phải. Ngày mẹ về làm dâu nhà này, mẹ dệt hai mươi năm cho xưởng, bà nội thằng Vỹ chưa bao giờ cho mẹ đứng tên cái gì. Tấm lụa đẹp nhất mẹ dệt, người ta mang đi triển lãm ở Hà Nội, ghi tên ông nội nó. Mẹ không kêu. Mẹ nghĩ, dâu thì phải thế, rồi đến lượt mình làm mẹ chồng thì mình mới có tiếng nói. Mẹ chờ bốn mươi năm để có tiếng nói. Rồi khi có rồi, mẹ lại dùng nó để nói đúng cái câu bà nội thằng Vỹ nói với mẹ.
Bà quay lại nhìn tấm lụa vàng nghệ.
– Mà con cò này, con cò co chân này, nó đứng đây từ bao giờ trong khăn của con, mẹ thấy từ lâu rồi. Mẹ không nói. Mẹ nghĩ, con bé này nó giỏi thật. Giỏi hơn mẹ. Mẹ không có cái gan làm thế ngày xưa.
Lanh kéo cái ghế đẩu ngồi xuống cạnh mẹ chồng. Hai người ngồi cạnh nhau trước cái khung cửi im lặng. Ngoài sân, tiếng cụ Nhâm rít thuốc lào sòng sọc.
Cô thò tay vào túi áo, rút ra sáu trang sao kê gấp tư. Cô đã nghĩ về giây phút này nhiều đêm. Nghĩ về việc nói hay không nói, nói lúc nào, nói thế nào. Cô đã quyết định không nói giữa đám đông. Nhưng cô cũng hiểu ra rằng giấu đi mãi thì không phải là thương. Giấu đi mãi là để một người mẹ cảm ơn sai đứa con của mình cho đến chết.
– Mẹ ơi, con có cái này. Con không đưa để kiện ai, cũng không đưa cho toà. Con chỉ nghĩ mẹ là người nên biết.
Bà Hảo cầm mấy tờ giấy, mở ra. Bà lục trong túi áo lấy cặp kính lão, đeo vào, đọc. Lanh chỉ cho bà dòng ngày hai mươi ba tháng bảy. Rồi dòng chín phút sau.
Bà đọc lâu. Bà đọc đi đọc lại cái tên Lã Văn Thịnh. Bà đọc cái dòng tài sản bảo đảm thuộc sở hữu bà Lã Thị Hảo. Bà đọc cái dòng từ tài khoản của Phan Gia Cương, thanh toán chuyển nhượng phần vốn góp.
Tay bà không run. Chỉ có tờ giấy trong tay bà khẽ rung lên một chút, như có gió, mà trong nhà kho không có gió.
– Thằng Vỹ bán phần của nó. – Bà nói, không phải hỏi. – Cho thằng Cương.
– Dạ.
– Để trả nợ cho thằng Thịnh.
– Dạ.
– Thằng Cương bảo mẹ là nó đi xin ngân hàng gia hạn. Nó bảo nó quen người ở ngân hàng, nó lo được. Mẹ cảm ơn nó. Mẹ thắp hương báo với bố nó là con trưởng nhà mình giỏi lắm.
Bà gấp mấy tờ giấy lại, theo đúng nếp gấp tư của Lanh. Bà tháo kính lão ra, cho vào túi. Rồi bà ngồi im, hai bàn tay chai đặt lên mấy tờ giấy trên đùi, nhìn ra cái cửa nhà kho, ra vệt nắng chiều đang nhạt dần thành màu tro.
Lanh không nói gì thêm. Cô ngồi bên cạnh, chờ. Cô không biết mình chờ cái gì. Một tiếng khóc, một tiếng chửi, hay một câu hỏi.
Không có gì cả. Một lúc lâu, bà Hảo đứng dậy. Bà cầm cái khăn len trên đùi lên quấn cổ, cầm mấy tờ sao kê cho vào túi áo bông. Bà nhìn tấm lụa vàng nghệ trên khung một lần nữa.
– Hàng thứ hai mươi mẹ đập lược hơi mạnh. Con bảo cái Thơm xem lại.
Rồi bà đi ra cửa, qua sân, không chào cụ Nhâm, không chào bà Dậu. Cái làn nhựa đựng mấy quả cam vẫn để lại bên chân khung cửi.
Đêm hôm ấy, Lanh nằm cạnh con, mở mắt nhìn trần nhà. Bé Sữa ngủ, tay vẫn nắm con thoi gỗ của bà nội, đêm nào cũng ôm nó đi ngủ từ hôm lễ trăm ngày. Cô nghĩ về bà Hảo đi qua cái sân nhà kho trong ánh chiều màu tro. Cô không biết mình vừa làm đúng hay sai. Cô chỉ biết đó là việc Vỹ không làm được, và anh đã để lại cho cô.
Những ngày sau đó, không ai từ nhà họ Phan liên lạc với cô. Bà Hảo không gọi. Cương không gọi. Thứ Bảy Lanh đưa bé Sữa sang chơi với bà như đã hứa, bà ra mở cổng, bế cháu vào, nói với Lanh một câu "Chiều năm giờ sang đón", rồi đóng cổng lại. Mặt bà không đọc được gì.
Ba ngày trước phiên hoà giải, Ngọc gọi Lanh lên văn phòng lúc tám giờ tối. Chị ngồi trước máy tính, mặt nghiêm hơn mọi lần.
– Bên kia vừa nộp bổ sung chứng cứ cho toà. Toà chuyển cho mình bản sao chiều nay. Chị ngồi xuống đi.
Trên màn hình là danh sách những tập tin. Mười bốn tập tin, mỗi tập tin một mẫu Cò Mây, đúng định dạng phần mềm thiết kế dệt mà Lanh vẫn dùng ở phòng kỹ thuật. Bên cạnh là một bảng thông tin của từng tập tin, do một công ty dịch vụ máy tính trích xuất và xác nhận. Ngày tạo: rải rác từ năm hai nghìn hai mốt đến năm hai nghìn hai mươi lăm. Ngày sửa cuối cùng. Và một dòng ghi tên tác giả, được phần mềm lưu tự động mỗi khi tạo tập tin.
Ở dòng tên tác giả, cả mười bốn tập tin đều ghi một cái tên: Phan Gia Cương.
– Đây là những tập tin trên cái máy tính của chị. – Lanh nói, giọng khàn. – Cái máy họ xóa trắng. Họ bảo bên tin học sao lưu.
– Tôi biết. – Ngọc gật đầu. – Họ sao lưu thật. Rồi họ sửa tên tác giả. Cái dòng tên tác giả trong tập tin không khó sửa đâu, ai biết dùng máy tính một chút là sửa được. Nhưng sửa xong rồi, thuê một công ty trích xuất, đóng dấu xác nhận, thì nó thành một tờ giấy có dấu đỏ nói rằng mười bốn mẫu này do Phan Gia Cương tạo ra trên máy tính từ năm năm trước.
– Mình chứng minh được là họ sửa không chị?
– Có thể. Cần giám định chuyên sâu, cần thời gian, cần tiền. Không kịp trước thứ Ba. – Ngọc tựa lưng vào ghế, nhìn Lanh. – Tôi không giấu chị. Lần này bên kia đánh một đòn tốt. Hợp đồng lao động thì mình đã có tờ xác nhận bảo hiểm để lật. Còn mười bốn tập tin này, đứng trước toà, nhìn thì rất giống thật.
Lanh nhìn màn hình. Mười bốn cái tên Phan Gia Cương xếp thành một cột thẳng tắp.
Cô đứng dậy, đi ra cửa sổ văn phòng. Ngoài kia, phố Nguyễn Trãi đêm đông, những dãy đèn xe nối đuôi nhau như một con sông màu đỏ. Cô đứng đó rất lâu.
Rồi cô quay lại.
– Chị Ngọc ơi. Mười bốn tập tin ấy, chị mở được không?
– Mở được. Toà chuyển cho mình bản sao đầy đủ.
– Chị mở mẫu số bảy cho em. Rồi phóng to cái góc dưới bên trái lên.
Ngọc nhìn cô, rồi quay lại màn hình, bấm chuột. Một lưới ô vuông hiện ra, hàng nghìn ô nhỏ li ti, mỗi ô một màu. Ngọc phóng to. Lại phóng to. Những ô vuông to dần lên bằng hạt đỗ, rồi bằng cái khuy áo.
Ở hàng mười hai, cột bảy, có một ô màu xám tro. Và quanh nó, mười ô màu xám tro khác, xếp thành hình một con cò nhỏ đang co một chân.
– Họ giữ nguyên con cò. – Lanh nói. – Họ sửa tên người, nhưng họ không sửa được con cò. Vì họ không biết nó ở đó, chị ạ. Đến khi biết thì họ lại tự viết ra rằng nó là đặc điểm riêng của bộ khăn. Bây giờ em chỉ cần anh Cương ngồi trước toà, mở cái tập tin mang tên anh ấy, và chỉ cho mọi người xem anh ấy đặt con cò này ở đâu, vì sao.
— Hết chương 9 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe