Chương 7: Mùi chượp lúc năm giờ sáng
Cô đọc tới chữ cuối cùng, rồi đọc lại từ đầu, như đọc một điều khoản hợp đồng mà mình đã hiểu sai ngay từ chữ đầu tiên.
Cửa thang máy vẫn kêu bíp bíp. Bác bảo vệ đã đi ra tới giữa hành lang, tay cầm cây đèn pin, nhìn hai người với vẻ mặt của người đã thấy đủ chuyện trên đời.
– Hai đứa đi hay ở? – bác hỏi. – Cái thang này nó kêu nữa là hư, tui không có tiền sửa đâu.
Quân bỏ tay khỏi cửa. Uyển bước ra ngoài, đứng cạnh anh trong hành lang. Hai cánh cửa thang máy khép lại sau lưng cô, và tiếng bíp tắt hẳn. Bác bảo vệ lắc đầu, đi về phòng.
– Em xin lỗi, – cô nói. Giọng cô nhỏ hơn cô muốn. – Em thấy cái màn hình. Em không đọc tiếp. Em không hỏi anh.
– Sao em không hỏi?
Cô im một lúc. Câu trả lời thật không dễ nói, nhưng nghề của cô là đòi người khác nói thật.
– Vì em sợ hỏi rồi anh bảo có.
Quân nhìn cô. Rồi anh thở ra một hơi dài, như người vừa đặt xuống một cái thùng nặng.
– Anh cũng sợ, – anh nói. – Sợ em nghĩ anh là thằng bán chữ. Mà tối hôm đó anh lại nói đúng một câu của thằng bán chữ. Thế là huề.
– Không huề. Câu của anh tệ hơn.
– Ừ. Câu của anh tệ hơn. – Anh cười, lần đầu sau một tuần. – Ba ngày chị Ngân cho anh, anh cần em. Mười một giờ đêm nay có chuyến xe đi Phan Thiết. Năm giờ sáng tới xưởng. Đi không?
– Đi để làm gì?
– Để hỏi ông Sáu một câu. Câu đó anh không hỏi được một mình.
Trên đường ra bến, anh kể cô nghe cả ngày thứ Ba của anh. Sáng, anh ngồi lì trong phòng anh Lực, đòi bằng được bảng số liệu từng bồn: ngày xuống thùng, số ký cá, số ký muối, ngày rút. Anh Lực đưa, không cãi một câu, chỉ hỏi anh định làm gì với mấy con số đó. Anh bảo chưa biết. Anh Lực nhìn anh hồi lâu rồi nói: "Ra xưởng thì hỏi ông Sáu bồn nào còn nguyên. Anh không dám hỏi."
Lúc lên xe, Quân đưa cô một gói me. Cô đưa lại anh một gói khác, to gấp đôi, cô đã mua ở chợ Bà Chiểu từ trước chuyến đi Mũi Né mà chưa có dịp đưa. Cả đêm, anh không say. Anh ngủ ngon lành ở giường trên, ngáy nhẹ, còn cô nằm giường dưới nghe tiếng bánh xe miết lên mặt cao tốc, đều đều như tiếng thở.
Năm giờ sáng, xưởng chượp Bảy Chèo đã thức. Đây là giờ rút nước mắm, lúc trời còn mát, nắng chưa lên làm nóng thùng. Mấy cái bóng đèn tuýp dưới mái tôn sáng trắng, công nhân đi lại khẽ khàng, tiếng nước mắm chảy từ vòi rút xuống những cái thau nhôm lớn nghe róc rách như suối. Mùi chượp lúc này đậm hơn ban ngày, ẩm hơn, ngọt hơn, như cả cái xưởng đang thở ra.
Ông Sáu Lưới đứng bên thùng gỗ số ba, tay cầm gáo dừa. Thấy hai người, ông không ngạc nhiên.
– Thằng Lực gọi tui tối qua, – ông nói. – Nó nói hai đứa bây ra. Nó không nói ra làm gì.
– Dạ con muốn quay ông, – Quân nói thẳng. – Không phải quay quảng cáo. Con muốn ông kể vì sao phải mười hai tháng.
– Tui nói rồi, tui làm mắm, không làm tuồng.
– Dạ con biết. Không ai đóng gì hết. Ông làm việc của ông, ông kể chuyện của ông. Con chỉ cầm máy đứng một góc.
Ông Sáu quay lưng lại, hứng nước mắm vào gáo, không trả lời. Quân nhìn Uyển. Cô bước tới, đứng cạnh ông bên thành thùng.
– Ông Sáu, – cô nói. – Hồi con mười hai tuổi, ba con bán con bò để trả tiền cho cả xóm. Vì ba con lỡ nói một câu quảng cáo không đúng. Ba con không lừa ai. Ba con chỉ tin người ta.
Ông Sáu dừng tay.
– Con không muốn anh Lực phải bán bò, – cô nói. – Con không muốn chị Ngân phải bán bò. Mà con nghĩ, muốn vậy thì phải có người nói được vì sao cái câu của ông Bảy là đúng. Người đó không phải con. Không phải anh Quân. Là ông.
Ông Sáu đứng im rất lâu. Nước mắm trong gáo dừa sóng sánh dưới ánh đèn tuýp, màu cánh gián trong như hổ phách. Rồi ông đặt gáo xuống thành thùng, lau tay vào vạt áo.
– Quay tay tui thôi. Đừng quay mặt.
Quân quay tay ông Sáu. Hai bàn tay khô, đen, móng tay mòn vẹt, đốt ngón to như đốt tre. Bàn tay ấy gỡ nan tre trên mặt thùng, xới nhẹ lớp chượp, nhón một nhúm xác cá lên vê giữa hai ngón tay. Và giọng ông kể, khàn, chậm, mỗi câu một nhịp như tiếng nước nhỏ giọt.
– Ba tháng đầu, con cá nó còn là con cá. Thịt nó còn chắc, mùi nó còn tanh. Tháng thứ tư, thứ năm, nó bắt đầu tan. Tháng thứ bảy, thứ tám, nước nó ra nhiều, mặn, nhưng gắt. Người ta rút lúc đó cũng ra nước mắm, cũng màu đẹp, cũng thơm. Nhưng cái ngọt ở cuối lưỡi thì chưa có. Phải tới tháng mười một, mười hai, cái chượp nó mới chín. Đạm nó ra hết. Cái ngọt nó mới về.
– Giống như trái xoài, – Quân hỏi khẽ sau máy quay. – Hái sớm thì cũng ăn được.
– Hái sớm thì chua. – Ông Sáu vê nhúm xác cá. – Ông Bảy nói vậy. Năm tám mốt, bão lớn, ghe nhà ông chìm một chiếc. Nhà hết gạo. Trong xưởng có bốn thùng chượp mới được tám tháng. Bà Bảy nói rút đi bán, lấy tiền đong gạo. Ông Bảy không chịu. Ông bán luôn chiếc ghe còn lại. Hồi trẻ ông chèo ghe giỏi nhất xóm nên người ta kêu Bảy Chèo, tới lúc đó thì ông hết ghe, chỉ còn cây chèo treo trên vách. Người ta chọc, hết ghe rồi sao còn kêu Bảy Chèo. Ông nói cái tên đó giờ là tên của mắm, không phải tên của ghe.
Uyển đứng nghe, hai tay đan vào nhau. Cô không biết chuyện này. Chị Ngân chắc cũng không biết hết.
– Ông Bảy có tiếc không ông? – cô hỏi.
– Tiếc chớ. – Ông Sáu cười, hàm răng còn thiếu hai cái. – Ổng tiếc tới chết. Mà ổng nói, tiếc ghe thì một năm, tiếc tên thì cả đời.
Mặt trời lên. Nắng tràn vào từ đầu dãy nhà mái tôn, rọi xiên qua mấy cái thùng gỗ, làm bụi trong không khí sáng lấp lánh. Quân quay tới khi pin máy báo đỏ. Rồi anh hạ máy xuống, đứng im, mắt đỏ hoe. Ông Sáu thấy, quay đi chỗ khác, giả bộ ho.
Tới trưa, sau bữa cơm cá nục kho của bà Tám, Quân kéo Uyển ra sân phơi. Giữa trưa, công nhân đi nghỉ, sân vắng tanh, chỉ có mấy dãy lu sành đội nón lá đứng im như những người canh gác. Anh ngồi xuống bóng râm của một dãy lu, mở điện thoại, ghi chép lia lịa.
– Ông Sáu nói tháng mười hai thì cái ngọt nó về, – anh nói, không ngẩng lên. – Sáu bồn đó xuống thùng tháng Ba. Tháng Ba sang năm là đủ mười hai tháng. Nếu mình không rút nữa, để nó yên tới tháng Ba thì sao?
– Thì nó thành Vàng thật, – Uyển nói. – Nhưng Tết thì không có hàng.
– Đấy. Tết không có hàng. – Anh ngẩng lên, mắt sáng như cái hôm thấy cái nhãn. – Mình nói đúng như thế. Tết này Bảy Chèo Vàng về muộn. Vì thiếu một ngày, không bán.
Uyển nhìn anh. Cô không nói gì. Trong đầu cô, một trăm cái gạch đỏ đang lần lượt đi tìm chỗ để gạch câu đó, và không tìm được chỗ nào.
– Còn ba chục nghìn chai đã bán? – cô hỏi. – Còn Hưng Lộc?
– Cái đó anh chưa nghĩ ra. Cái đó em nghĩ. – Anh cười. – Em gạch, anh viết. Phân công rồi.
Cô cười theo. Rồi cô thôi cười, vì anh đang nhìn cô, và cái nhìn ấy không phải của một giám đốc sáng tạo nhìn một pháp chế.
– Uyển, – anh nói. – Tối ở Mũi Né, anh chưa nói hết câu.
– Câu gì?
– Ánh bảo anh nói chữ "pháp chế" mà mặt như người nói chữ…
Anh không nói tiếp. Anh nghiêng người về phía cô. Bóng râm của dãy lu sành phủ lên hai người, mát như nước giếng. Cô không lùi lại. Cô ngửi thấy mùi nắng trên tóc anh, mùi nước mắm vương trên tay áo, và nghe tim mình đập to tới mức tưởng cái lu sành bên cạnh cũng nghe thấy.
– E hèm.
Ông Sáu đứng ở đầu dãy lu, tay chắp sau lưng, mặt tỉnh bơ như người đi kiểm tra nón lá.
– Mấy cái lu này ủ mắm nêm, – ông nói. – Đừng ngồi dựa vô, đổ là mất nửa tháng công.
Quân bật dậy nhanh tới mức đầu đụng vào cái nón lá trên miệng lu. Cái nón rơi xuống, lăn tròn trên sân. Uyển ngồi yên, hai tay ôm mặt, vai rung lên vì cười.
Ông Sáu nhặt cái nón, đội lại lên miệng lu, chỉnh cho ngay ngắn.
– Hai đứa theo tui. Có cái này cho coi.
Ông dẫn họ ra dãy bồn xi măng, tới bồn số mười hai. Lần này ông không ngừng giữa chừng. Ông đi dọc từ bồn mười hai tới bồn mười bảy, gõ lên thành từng cái, rồi chỉ vào vòi rút dưới chân bồn. Ở bồn mười hai, vòi mở, ống nhựa nối sang dãy nhà đóng chai, trong bồn chỉ còn lớp xác cá. Từ bồn mười ba tới bồn mười bảy, vòi bị quấn mấy vòng dây xích sắt, khóa bằng một cái ổ khóa đồng cũ, to bằng nắm tay.
– Thằng Lực cho rút bồn mười hai, rồi rút tiếp bồn mười ba, đóng ba chục nghìn chai giao Hưng Lộc, – ông Sáu nói. – Rút tới nửa bồn mười ba thì tui khóa. Chìa tui giữ. – Ông vỗ vào túi quần. – Nó nói thứ Hai tuần sau cho thợ lên cắt khóa, đóng chai cho đủ. Tui nói nó cắt thì tui nghỉ. Gần năm chục năm, tui nghỉ.
Uyển nhìn năm cái ổ khóa. Bốn bồn còn nguyên, một bồn còn một nửa. Chín chục nghìn chai chưa thành chai.
– Ông Sáu, – cô nói khẽ. – Vậy là còn kịp.
Tiếng còi xe ô tô vang lên ngoài cổng. Một lần. Rồi một lần nữa, dài hơn.
Cả ba quay lại. Ngoài cánh cổng sắt sơn xanh, một chiếc xe bán tải màu bạc của công ty đỗ lại, bụi đất đỏ còn bám đầy bánh. Cửa xe mở. Anh Lực bước xuống, một mình, áo sơ mi trắng nhàu sau bốn tiếng lái xe, cái đồng hồ dây da đeo lỏng trên cổ tay. Anh đi thẳng vào sân, qua mặt Quân, qua mặt Uyển, dừng lại trước ông Sáu.
– Ông Sáu, – anh nói. – Đưa tui chìa khóa.
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe