AI Truyện
Cô pháp chế gạch chữ nhất

💞 Ngôn tình

Cái nhãn vẽ tay năm bảy chín

Cô pháp chế gạch chữ nhất · Chương 2/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Cái nhãn vẽ tay năm bảy chín

Xe chạy qua trạm thu phí đầu cao tốc được chừng hai mươi phút thì Quân bắt đầu im.

Người Hà Nội nói nhiều, Uyển biết. Từ lúc leo lên chiếc giường tầng trên ở bến xe, anh kể liền một mạch. Chuyện phố Hàng Chiếu nhà anh sáng nào cũng có bà bán xôi xéo gõ cửa. Chuyện mẹ anh gọi điện ba lần một ngày hỏi đã có người yêu chưa. Chuyện cái xe tay ga màu kem anh mua lại của một ông thầy dạy nhạc, chạy mười năm chưa chết máy. Rồi tới đoạn đường thẳng tắp, xe đều ga, gió điều hòa thổi lạnh gáy, câu chuyện đứt ngang. Uyển nằm giường dưới, ngóc đầu lên nhìn. Mặt anh trắng bệch như giấy dó, hai tay ôm cái gối, mắt nhắm nghiền.

– Anh chưa say bao giờ mà, – cô nói.

– Em đang… nghĩ khẩu hiệu.

– Nghĩ bằng mặt hả?

Cô lục cái túi vải, lôi ra một gói me ngào đường má cô gửi vào, bóc một viên đưa lên.

– Ngậm đi. Đừng nhai. Mắt nhìn ra xa, đừng nhìn điện thoại.

Anh ngậm viên me, nhăn mặt vì chua, rồi lại nhăn mặt vì ngọt. Mười phút sau, mặt anh có lại chút màu. Anh thò đầu xuống từ giường trên, tóc rũ như con chó con mắc mưa.

– Chị mang theo me để làm gì?

– Để cho người chưa say bao giờ.

Anh cười, cái cười yếu xìu nhưng thật. Cả quãng đường còn lại anh không nói nhiều nữa, chỉ thỉnh thoảng hỏi một câu. Có câu anh hỏi vì sao cô học luật. Cô đáp gọn: hồi đó điểm khối C cao. Anh không tin, mà cũng không hỏi tiếp.

Hơn mười giờ, xe thả hai người xuống một ngã ba ven biển phía bắc Phan Thiết. Nắng tháng Mười ở đây không giống Sài Gòn: trắng hơn, khô hơn, có vị muối. Một chiếc xe ôm chở hai người men theo con đường đất đỏ, hai bên là đồi cát lốm đốm cây xương rồng, rồi rẽ vào một cánh cổng sắt sơn xanh đã tróc. Trên cổng, tấm bảng gỗ cũ đóng bằng đinh: Xưởng chượp Bảy Chèo.

Mùi đón họ trước cả người. Mùi cá ủ muối, nặng, mặn, ngọt lợ ở cuối, cái mùi mà ai lớn lên ở vùng biển thì nghe như mùi nhà, còn người lạ thì như bị ai úp nguyên cái nồi lên mặt. Uyển hít vào, thấy quen. Quân hít vào, quay đầu đi chỗ khác, ho sù sụ.

– Cậu thanh niên này người Bắc hả?

Ông Sáu Lưới đứng dưới mái hiên, chân đi đôi dép tổ ong, quần xắn ống, cái áo thun ba lỗ bạc màu để lộ hai bắp tay khô như dây chão. Ông bảy mươi mốt tuổi mà lưng chưa còng, da đen bóng như cái khạp đã ngâm nước mắm cả đời. Cái tên Sáu Lưới, Uyển nghe chị Ngân kể, là vì hồi trẻ ông đan lưới giỏi nhất xóm, tới khi theo ông Bảy làm mắm thì giữ luôn cái tên.

– Dạ con người Hà Nội, – Quân lau miệng. – Con chào ông.

– Ngửi riết rồi quen. Ba bữa là cậu đòi ăn cơm chan nước mắm cho coi.

Ông dẫn hai người đi một vòng xưởng. Phía ngoài là sân phơi, những dãy lu sành miệng rộng đậy nón lá, nắng chiếu xuống mặt nón như rắc bột. Phía trong là hai dãy nhà mái tôn cao, dưới mái là những cái thùng gỗ lớn, thùng nào cũng to bằng cái phòng ngủ nhỏ, ván gỗ bời lời đen bóng, đai bằng mây tre và dây kẽm. Bên kia sân, dãy bồn xi măng mới xây hơn chục năm nay, đánh số bằng sơn đỏ từ một tới hai mươi.

– Cá cơm với muối hột, – ông Sáu nói, tay vỗ vào thân thùng gỗ, tiếng gỗ dày kêu bộp bộp. – Ba cá một muối. Cá phải tươi, đánh lên là ướp ngay trên ghe. Về đây xuống thùng, nén chặt, gài nan tre, đè đá. Rồi để đó.

– Để bao lâu ông? – Quân hỏi. Anh đã quên ho, mắt nhìn chằm chằm vào cái lỗ rút dưới đáy thùng, nơi một giọt nước màu cánh gián đang đọng lại.

– Mười hai tháng. Có thùng để mười lăm, mười tám. Chượp nó chín từ từ, đạm nó ra từ từ. Ép nó mau thì nó ra mặn chát, không có hậu.

– Có hậu là sao ông?

Ông Sáu không đáp. Ông lấy cái gáo dừa nhỏ treo ở thành thùng, hứng một ít nước mắm từ vòi rút, đưa cho Quân.

– Chấm đầu ngón tay. Nếm.

Quân nhìn Uyển như cầu cứu. Uyển khoanh tay đứng nhìn, không cứu. Anh chấm đầu ngón tay, đưa lên lưỡi. Mặt anh nhăn lại vì mặn, rồi giãn ra, rồi im lặng một lúc lâu.

– Nó ngọt, – anh nói khẽ. – Ở cuối, nó ngọt.

– Đó, có hậu là vậy đó.

Đi hết vòng sân thì tới cái văn phòng xưởng, một gian nhà gỗ thấp kê cái bàn, mấy cái ghế nhựa, bình trà, cái quạt cây kêu lạch cạch. Trên vách, giữa tờ lịch treo tường và tấm bằng khen đã ố, có một khung kính nhỏ cỡ bàn tay. Trong khung là một cái nhãn giấy vẽ tay, nét mực tím đã phai thành màu tro. Hình một chiếc thuyền nan với một người cầm chèo. Bên dưới, chữ viết tay nắn nót kiểu người học trường làng ngày trước:

Nước mắm Bảy Chèo. Cá cơm, muối hột. Thiếu một ngày, không bán.

Quân đứng sững trước khung kính. Uyển thấy anh đứng như vậy lâu tới mức cô phải bước tới gần xem có phải anh lại say không.

– Cái này… – anh nói, rồi im.

– Ông Bảy vẽ đó, – ông Sáu nói từ phía sau, giọng đổi khác, mềm đi. – Năm bảy chín. Hồi đó không có tiền in, ổng vẽ tay từng cái, dán lên từng chai. Tui ngồi bên coi ổng vẽ, ổng nói: mình nghèo thì nghèo, nhưng chai mắm nào ra khỏi xưởng phải đủ ngày. Thiếu một ngày thôi cũng không bán.

– Chị Uyển, – Quân quay lại, mắt anh sáng như đèn pha xe khách. – Câu này. Câu này là câu của mình.

Uyển nhìn cái nhãn. Cô đọc đi đọc lại cái chữ "không bán" viết hơi nghiêng, nét chữ "g" có cái móc dưới cong như cái móc câu. Đây là câu đầu tiên trong mấy tuần nay cô không muốn gạch. Nhưng nghề của cô không cho phép cô chỉ muốn.

– Câu này hay, – cô nói. – Hay nhất từ đầu tới giờ anh đưa em. Mà nó chỉ được in nếu bây giờ vẫn còn đúng.

– Thì nó đúng. Ông Sáu vừa nói mười hai tháng.

Cô quay sang ông Sáu.

– Ông Sáu, lô Bảy Chèo Vàng năm nay, xuống thùng tháng mấy vậy ông?

Ông Sáu đang rót trà. Cái ấm khựng lại giữa chừng, nước trà rót tràn ra miệng chén một chút, ông lấy khăn lau. Ông liếc sang Quân, rồi liếc ra cửa.

– Giấy tờ lô thì trên công ty giữ hết, cô hỏi trên đó.

– Dạ con hỏi rồi, mà…

– Uống trà đi. Trưa nay ăn cá nục kho, bà Tám nấu.

Bữa trưa ở xưởng là một mâm nhôm bày trên tấm phản ngoài hiên: nồi cá nục kho tiêu sậm màu, dĩa rau muống luộc, chén nước mắm nhĩ nguyên chất không pha, một trái ớt hiểm bẻ đôi. Công nhân ngồi ăn với nhau, nói tiếng Phan Thiết nặng trịch mà Quân nghe được chữ mất chữ. Anh ăn ba chén cơm, chan nước mắm lên chén thứ ba. Ông Sáu nhìn anh, cười khà.

– Tui nói rồi, ba bữa. Cậu này mới bữa đầu.

Ngày thứ hai ở xưởng trôi theo nhịp của cái thùng gỗ: chậm, nặng, không vội được. Quân đi theo công nhân từ sáng sớm, chụp ảnh cái nón lá trên miệng lu, quay cái vòi rút lúc nước mắm chảy ra óng như mật, ghi vào điện thoại những câu ông Sáu nói buột miệng. Uyển ngồi văn phòng xưởng lật sổ sách, đối chiếu hóa đơn mua muối, phiếu nhập cá, bảng lịch xuống thùng. Có những trang cô thấy rõ ràng. Có những trang cột ngày tháng để trống.

Tối hôm đó, hai người theo xe công nhân vào chợ Phan Thiết ăn bánh căn. Cái quán nhỏ ven đường, bà chủ ngồi trước dãy khuôn đất nung bốc khói, tay nhanh như đánh đàn: rưới bột, đập trứng, đậy nắp, mở nắp. Bánh căn chấm nước mắm pha với xoài xanh bằm, ớt, tỏi. Quân ăn tới đĩa thứ tư.

– Chị chưa trả lời em, – anh nói, miệng còn nóng. – Sao chị học luật?

Uyển xé cái bánh căn làm đôi, nhìn cái lòng đỏ trứng chảy ra.

– Ba em bán phân bón ở Quảng Ngãi, – cô nói. – Đại lý cấp hai. Có một năm ba em đi xin lỗi từng nhà trong xã.

– Vì sao?

– Ăn đi anh. Nguội bánh.

Quân nhìn cô, rồi không hỏi nữa. Anh đẩy chén nước mắm xoài về phía cô, chén của anh, vì chén của cô đã hết.

Chín giờ tối, về lại xưởng. Gió biển thổi qua dãy mái tôn kêu rèn rẹt. Quân đi tắm ở cái phòng tắm sau bếp, nước giếng lạnh làm anh la oai oái vọng ra tận sân. Uyển ngồi trên bậc thềm văn phòng, đang định gọi về cho má thì thấy một bóng người đứng ở góc sân bồn. Bóng người giơ tay vẫy, rất khẽ.

Cô đi tới. Ông Sáu đứng giữa hai dãy bồn xi măng, cái đèn pin trong tay tắt.

– Cô theo tui, – ông nói nhỏ. – Coi cái này.

Ông dẫn cô đi dọc dãy bồn, ngón tay khô như rễ cây gõ lên thành từng cái bồn, đếm thầm. Tới bồn số mười hai thì ông dừng.

– Sáu cái bồn từ đây tới đằng kia, – ông nói. – Năm nay…

Một luồng đèn pin rọi thẳng vào hai người. Tiếng dép lẹp xẹp chạy tới.

– Chị Uyển! Chị đi đâu thế? Em ra không thấy chị, chó nhà bên sủa ầm lên, em tưởng…

Quân đứng đó, tóc còn ướt, cái áo phông mặc trái, tay cầm điện thoại bật đèn. Ông Sáu quay mặt khỏi luồng sáng, cái lưng thẳng của ông bỗng như chùng xuống một chút.

– Không có gì, – ông nói to, giọng trở lại khàn khàn như ban ngày. – Tui chỉ cô coi chỗ đặt mấy cái bồn mới.

Ông đi ngang qua Uyển. Lúc vai hai người chạm nhau, ông nói, nhỏ đến mức gió suýt cuốn mất:

– Cô hỏi lô Vàng thì đi hỏi thằng Lực. Tui không ký giấy nào hết.

Rồi ông khuất sau dãy nhà mái tôn, tiếng dép tổ ong xa dần.

Uyển đứng im giữa sân bồn. Quân vẫn rọi đèn vào cô, ngơ ngác.

– Em làm gì sai à?

– Anh tắt đèn đi, – cô nói, và giọng cô lạnh hơn cô muốn. – Chói mắt.

— Hết chương 2 —

Mục lục Cô pháp chế gạch chữ nhất

  1. 1Chữ nhất trên băng rôn ba mét9 phút
  2. 2Cái nhãn vẽ tay năm bảy chín10 phút đọc
  3. 3Giấy kiểm nghiệm của lô năm ngoái10 phút đọc
  4. 4Gió Mũi Né không đọc kịch bản10 phút đọc
  5. 5Ba mươi tư độ10 phút đọc
  6. 6Bản dựng thứ hai10 phút đọc
  7. 7Mùi chượp lúc năm giờ sáng10 phút đọc
  8. 8Tết này về muộn10 phút đọc
  9. 9Ai biết chuyện tám tháng10 phút đọc
  10. 10Ba chai mắm trước mười một nghìn người9 phút đọc
  11. 11Ô cuối cùng trên tấm lịch10 phút đọc

Về truyện này

Cô pháp chế gạch chữ nhất là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →