Chương 1: Tờ giấy dưới lồng bàn
Chồng tôi nấu cơm tối hôm ấy, và đó là điều đầu tiên làm tôi sợ.
Tám năm lấy nhau, Trí vào bếp đúng những ngày tôi ốm liệt giường hoặc ngày giỗ ba anh. Còn lại, anh rửa bát, lau nhà, phơi đồ, sửa ống nước, làm mọi thứ, trừ nấu. Anh bảo tay anh đổ bê tông quen rồi, nêm nếm không ra hồn. Vậy mà tối thứ Sáu ấy, tôi đi làm về, dựng xe dưới gốc cau trong sân, nghe mùi cá kho tiêu bay ra tận cổng.
Trên bàn có cái lồng bàn nhựa xanh. Dưới lồng bàn là một đĩa cá bống thệ kho tiêu, một tô canh rau má nấu tôm, một đĩa vả trộn. Toàn món tôi thích. Đặt ngay ngắn bên cạnh đĩa cá, đè dưới một đôi đũa, là một tờ giấy gấp đôi.
Tôi mở ra. Đơn thuận tình ly hôn. Phần người chồng đã điền xong, chữ in hoa ngay hàng thẳng lối như chữ trên bản vẽ kỹ thuật. Ở cuối trang có chữ ký của anh. Phần người vợ còn trống.
Tôi đứng đó, tay cầm tờ đơn, tay kia vẫn còn cầm chùm chìa khóa xe. Ngoài hiên, Trí ngồi trên cái ghế mây, quay lưng vào nhà, nhìn ra con đường Kim Long tối om dưới hàng phượng. Anh không quay lại. Nhưng tôi biết anh nghe tiếng tôi mở tờ giấy.
– Cái chi đây anh? – tôi hỏi. Giọng tôi bình thường đến lạ.
– Em ăn cơm đi đã. – anh nói. – Cá nguội thì tanh.
Tôi đặt tờ đơn xuống bàn. Tôi đi ra hiên, đứng trước mặt anh. Anh ngẩng lên. Mặt anh sạm nắng, gầy hơn tuần trước, râu lởm chởm, đôi mắt đỏ như người thức trắng mấy đêm liền. Trên tay anh là ly trà gừng đã nguội.
– Anh nói đi. – tôi nói.
– Anh mệt rồi, Nhi.
– Mệt cái chi?
Anh nhìn xuống ly trà.
– Năm năm rồi. – anh nói. – Mạ anh cứ rứa. Em cứ rứa. Anh cứ rứa. Mình không có con. Mỗi tháng em đi làm về, anh nhìn mặt em là anh biết tháng ni lại không. Anh không chịu nổi nữa. Em còn trẻ, em ba mươi bốn. Em đi lấy người khác, em còn kịp.
Tôi nghe từng chữ anh nói, rõ ràng, chậm rãi, như anh đã tập trước. Tôi chờ anh nói thêm. Anh không nói thêm.
– Anh có ai khác không? – tôi hỏi.
– Không.
– Anh nhìn em mà nói.
Anh ngẩng lên, nhìn tôi.
– Không có ai hết. – anh nói. – Anh thề.
Tôi tin anh. Đó là điều tệ nhất. Nếu anh có ai khác, tôi còn có chỗ để giận. Nhưng anh nói không, và tôi tin anh, và tôi đứng đó không biết đặt cơn giận của mình vào đâu.
Tôi không ăn cơm. Tôi đi tắm, vặn nước thật nóng, đứng dưới vòi sen cho tới khi da đỏ ửng. Khi tôi ra, mâm cơm đã được cất vào chạn, tờ đơn vẫn nằm trên bàn, Trí đã trải chiếu nằm ngoài phòng khách. Anh nằm quay mặt vào tường. Tôi đứng ở cửa buồng nhìn cái lưng anh rất lâu. Rồi tôi vào buồng, đóng cửa.
Tôi nằm không ngủ được. Tôi nhìn lên trần nhà, nghe tiếng thạch sùng tắc lưỡi đâu đó trên xà, và tôi nghĩ tới chiếc nón.
Chín năm trước, Trí là anh kỹ sư trẻ của đội sửa cầu Trường Tiền, ngày nào cũng đứng trên giàn giáo, mũ vàng, áo cam, đen nhẻm như cột điện. Tôi là cô chuyên viên trị liệu mới đi làm được một năm, ngày nào cũng đạp xe qua cầu đi làm. Anh nhìn tôi ba tháng. Rồi một buổi chiều tháng Ba, anh đứng chờ ở chân cầu phía bến Tòa Khâm, tay cầm một chiếc nón lá mới tinh, trắng ngà, thơm mùi lá non.
– Em đưa lên soi nắng coi. – anh nói, mặt đỏ tới mang tai.
Tôi nghiêng chiếc nón, đưa lên trước mặt trời đang lặn phía Kim Long. Giữa hai lớp lá mỏng tang, những hình cắt bằng giấy hiện ra: một nhịp cầu sắt, một con đò. Rồi hai câu thơ lục bát, viết bằng nét chữ in hoa ngay hàng thẳng lối của dân vẽ kỹ thuật. Anh đặt o bán nón ở chợ Đông Ba làm riêng, tự viết thơ, tự cắt chữ. Thơ dở ẹc. Tôi đọc xong, cười đến chảy nước mắt. Rồi tôi nhận lời đi chè với anh.
Chiếc nón ấy treo trên vách nhà chúng tôi từ ngày cưới. Tám năm, tôi không đem nó ra soi lại lần nào. Tôi nghĩ mình thuộc lòng rồi, cần chi soi.
Bốn giờ sáng, tôi nghe tiếng xe máy nổ ngoài sân. Tôi chạy ra. Trí đã đội mũ bảo hiểm, ba lô đeo sau lưng, đang dắt xe ra cổng.
– Anh đi mô giờ ni? – tôi hỏi.
– Lên công trình. Thứ Hai đổ bê tông trụ, anh phải lên kiểm tra cốt thép.
– Mọi khi anh đi sáng thứ Hai mà.
– Lần ni anh đi sớm.
Anh nổ máy. Đèn xe quét qua hàng rào chè tàu, qua gốc cau, qua mặt tôi. Tôi đứng đó trong bộ đồ ngủ, tóc còn ướt, nhìn cái đèn hậu đỏ nhỏ dần trên đường Kim Long rồi tắt hẳn ở khúc quanh ra chùa Thiên Mụ.
Sáng thứ Bảy, trung tâm phục hồi chức năng nhi vẫn làm việc nửa ngày. Tôi đi làm như mọi thứ Bảy, vì tôi không biết làm gì khác.
Tôi làm âm ngữ trị liệu đã mười năm. Người ta hay hỏi tôi nghề đó là nghề chi, tôi bảo là dạy nói. Dạy những đứa trẻ nói ngọng, nói lắp, nói chậm, những đứa trẻ sinh ra có hở hàm ếch, những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ chỉ biết nhại lại lời người khác. Mỗi ngày tôi ngồi trong căn phòng nhỏ có cửa sổ nhìn ra hồ sen, trên sàn trải thảm xốp màu, trên kệ đầy con rối, thẻ hình, đồ chơi, và tôi chờ một đứa trẻ nói ra một chữ. Có đứa tôi chờ ba tháng. Có đứa tôi chờ hai năm.
Mười giờ, chị Mến bên quầy tiếp nhận gõ cửa phòng tôi.
– Ca mới nì em. – chị nói, đưa tôi tập hồ sơ. – Bé gái sáu tuổi, không nói từ hơn một năm ni. Khám tai mũi họng, khám thần kinh đều bình thường. Bên tâm lý chuyển qua. Ba nó đòi gặp đúng em.
– Đúng em?
– Ừ. Nói là có người giới thiệu.
Tôi mở hồ sơ. Đinh Bảo Ngọc, sáu tuổi, ở nhà gọi là Sẻ. Mẹ mất trong một tai nạn giao thông mười bốn tháng trước, bé ngồi sau xe. Bé bị gãy tay, đã lành. Từ hôm ấy không nói. Gật, lắc, chỉ tay, vẽ. Không nói với ai, kể cả ba.
Tên người giám hộ: Đinh Quân.
Tôi đọc cái tên ấy hai lần. Rồi tôi nhìn ra cửa.
Anh đứng ở ngưỡng cửa, tay dắt một đứa bé gái tóc cắt ngắn ngang vai, mặc váy yếm màu vàng. Anh gầy hơn ngày xưa nhiều. Tóc vẫn rối như tổ quạ. Trên cổ vẫn đeo cái máy ảnh, như thể nó là một phần cơ thể anh. Mười hai năm rồi tôi không gặp anh, chỉ thỉnh thoảng thấy tên anh dưới những tấm ảnh phóng sự trên báo.
– Chào em. – Quân nói.
– Chào anh. – tôi nói. Rồi tôi cúi xuống, ngang tầm mắt đứa bé. – Chào con. Cô tên Nhi.
Con bé nhìn tôi. Đôi mắt to, đen láy, không chớp. Nó không gật, không lắc. Nó chỉ nhìn, như đang đo xem tôi có đáng tin không.
Buổi đầu tiên, tôi không bắt con bé nói. Đó là điều đầu tiên người ta học trong nghề này: với những đứa trẻ im lặng vì sợ, càng ép càng im. Tôi ngồi trên thảm, xếp mấy con rối ra trước mặt, chơi một mình. Tôi cho con rối con mèo nói chuyện với con rối con chó, giọng tôi lúc the thé lúc ồm ồm. Con bé đứng nép sau chân ba nó suốt hai mươi phút. Rồi nó ngồi xuống thảm, cách tôi một sải tay. Rồi nó với tay lấy con rối con chim sẻ.
Tôi không nhìn nó. Tôi cho con mèo hỏi con chó: "Ê, con chim sẻ kia có biết hót không ta?" Con chó trả lời: "Chắc là biết, mà nó chưa muốn hót thôi."
Con bé cầm con rối chim sẻ, ngón tay vân vê cái mỏ vải màu cam. Nó không nói. Nhưng nó cũng không bỏ con rối xuống.
Năm mươi phút trôi qua. Tôi bảo hôm nay rứa là được rồi, thứ Ba gặp lại. Quân cúi xuống bế con. Con bé không cho bế. Nó bước tới chỗ tôi, đưa bàn tay nhỏ xíu nắm lấy ngón tay trỏ của tôi. Nắm chặt.
Tôi ngồi yên. Quân đứng sững.
– Sẻ. – anh gọi khẽ. – Về thôi con.
Con bé không buông. Nó nắm tay tôi, nhìn ba nó, rồi nhìn tôi, như hỏi một câu gì đó mà không ai trong hai người lớn hiểu được.
– Từ hôm mạ nó mất, – Quân nói, giọng khàn đi, – nó chưa nắm tay ai ngoài anh.
Phải mất mười phút, và một lời hứa thứ Ba tôi sẽ cho nó giữ con rối chim sẻ suốt buổi, con bé mới chịu buông. Quân bế con ra cửa. Đến ngưỡng cửa, anh quay lại.
– Anh không biết em làm ở đây. – anh nói. – Người ta giới thiệu cô Nhi, anh không nghĩ là em.
Tôi nhìn anh. Mười hai năm, anh vẫn nói dối dở như ngày xưa. Mỗi lần nói dối, anh gãi gáy. Bây giờ anh đang gãi gáy.
– Thứ Ba gặp lại anh. – tôi nói.
Trưa ấy tôi về nhà. Căn nhà vắng tanh. Tờ đơn vẫn nằm trên bàn, chỗ tôi để. Tôi đi ngang qua phòng khách, định đi thẳng vào buồng thì khựng lại.
Trên bức vách gỗ cạnh bàn thờ, chỗ treo chiếc nón bài thơ tám năm nay, chỉ còn trơ một cái đinh.
Chiếc nón Trí tặng tôi hồi anh còn đi tán tôi, giữa hai lớp lá có ép hai câu thơ chính tay anh viết, phải đưa lên soi nắng mới đọc được. Tám năm nó treo ở đó, không ai đụng tới, bụi phủ một lớp mỏng trên vành.
Bây giờ nó không còn ở đó. Và người duy nhất ra khỏi căn nhà này từ tối qua tới giờ là anh.
— Hết chương 1 —
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe