Chương 11: Có chữ
Trí về Huế vào chiều thứ Bảy, ba ngày sau đêm lũ, ngồi trên thùng một chiếc xe tải chở hàng cứu trợ quay về xuôi.
Tôi đứng chờ ở ngã ba Kim Long, chỗ con đường rẽ vào kiệt nhà mạ. Đường vẫn còn ngập bùn, hai bên vỉa hè chất đầy đồ đạc người ta mang ra phơi, nệm, tủ, chiếu, sách vở. Chiếc xe tải dừng lại. Trí nhảy xuống, quần áo lấm lem đất đỏ từ đầu tới chân, râu ria mọc kín cằm, cái ba lô bạc màu trên lưng. Trên tay anh cầm chiếc nón lá.
Anh đứng đó nhìn tôi. Tôi đứng đó nhìn anh. Rồi tôi chạy tới.
Tôi không nhớ mình nói chi. Tôi chỉ nhớ mình đấm vào ngực anh mấy cái, không mạnh, mà cũng không nhẹ. Rồi tôi úp mặt vào cái áo đầy bùn của anh mà khóc. Khóc như năm năm nay tôi chưa từng được khóc, không phải trong nhà tắm, không phải dưới vòi nước, mà giữa đường, giữa ban ngày, trước mặt cả xóm đang dọn bùn. Trí đứng yên, một tay ôm tôi, tay kia giơ chiếc nón lên cao cho khỏi bị bẹp.
– Anh xin lỗi. – anh nói vào tóc tôi. – Anh không gọi được.
Anh kể cho tôi nghe sau, lúc đã tắm rửa, ăn ba bát cơm, ngồi trên chiếu ở nhà mạ. Đêm thứ Tư, nước suối lên cao gần chạm mặt cầu. Giàn giáo rung bần bật. Anh với ông Hòa và mười hai công nhân chằng néo tới hai giờ sáng rồi rút hết lên bản trên đồi. Mất sóng, mất điện, đường xuống sạt hai đầu. Sáng thứ Năm, anh lội bộ sáu cây số qua hai con dốc trơn trượt tới đồn biên phòng, xin mượn điện thoại của bộ đội để gọi về. Anh chỉ được nói mấy giây, vì sau anh còn cả hàng người dân bản chờ gọi về cho con cháu dưới xuôi.
– Anh chỉ kịp nói hai câu. – anh nói.
– Hai câu là đủ rồi. – mạ nói. Mạ ngồi cạnh, tay vẫn gỡ xương cá cho con trai như hồi anh còn ba tuổi.
Cây cầu đứng vững. Nước rút, hai cái trụ vẫn đứng giữa dòng suối, giàn giáo cong mất một góc nhưng không đổ. Hai bản người Tà Ôi bên kia suối lần đầu tiên sau một trận lũ không bị cô lập quá ba ngày, vì người ta bắc mấy tấm ván qua hai cái trụ làm lối đi bộ tạm. Ông Hòa gọi xuống kể, giọng hào hứng, bảo mấy ông già trong bản đòi đặt tên cầu là cầu thầy Trí. Trí nghe xong, đỏ mặt, bảo ông Hòa đừng có bịa.
Kết quả xét nghiệm đã về từ trước trận lũ, nhưng phải chờ tới khi đường thông, Trí xuống được, hai đứa mới cùng vào nghe.
Chúng tôi lại ngồi ở hành lang tầng ba. Chị đan len hôm trước cũng ở đó, ngồi hàng ghế đầu. Cái mũ len màu vàng đã đan xong, đặt trên đùi chị. Thấy tôi, chị giơ nó lên, cười, mắt đỏ hoe: lần ni có rồi em, tám tuần. Tôi ôm chị một cái, hai người đàn bà lạ ôm nhau giữa hành lang bệnh viện, không ai thấy lạ. Rồi y tá gọi tên Trí, chúng tôi vào căn phòng nhỏ. Bác sĩ Toàn đọc từng tờ, chậm rãi, rồi giải thích. Lần xét nghiệm thứ hai vẫn không thấy tinh trùng. Nhưng nội tiết của Trí không xấu như ông lo. Ông bảo, với trường hợp như ri, vi phẫu vẫn có cơ hội. Không chắc. Không hứa. Nhưng có cơ hội.
– Anh chị về suy nghĩ. – ông nói. – Không gấp. Mổ thì phải chuẩn bị, phải tính tiền, phải tính cả chuyện nếu mổ ra mà không tìm được thì hai người sẽ nói với nhau răng.
Chúng tôi về. Chúng tôi suy nghĩ. Chúng tôi nói với nhau ba đêm liền, nói trên giường, nói trong bếp, nói ngoài hiên. Có đêm tôi khóc. Có đêm anh im lặng tới gần sáng. Nhưng không ai đi vào nhà tắm mở nước. Không ai đặt tờ giấy nào dưới lồng bàn.
Đêm thứ ba, chúng tôi quyết. Mổ một lần. Nếu tìm được, làm tiếp. Nếu không tìm được, chúng tôi sẽ cho nhau sáu tháng để buồn, rồi ngồi lại nói chuyện về hai con đường còn lại. Trí viết cái quyết định ấy vào một tờ giấy, chia hai cột như mọi khi, rồi ký tên bên dưới. Anh đưa bút cho tôi. Tôi ký bên cạnh. Lần đầu tiên trong tám năm, một tờ giấy có chữ ký của hai đứa mà không ai phải ký trước rồi đẩy sang cho người kia.
Rằm tháng Mười, giỗ ba, còn gần một tháng nữa. Mạ đã đi chợ mua sẵn nếp, sẵn đậu. Không ai nhắc tới chuyện sau giỗ sẽ ký cái chi.
Cuối tháng Mười, nắng quay về Huế. Thứ Ba tuần ấy, tôi mang chiếc nón bài thơ tới trung tâm.
Sẻ tới đúng giờ, đội chiếc nón nhỏ quai xanh, đeo cái cặp sách lớp Một màu hồng. Bà Hai kể, ba tuần đi học, con bé chưa nói với cô giáo câu nào, nhưng tuần trước nó giơ tay xin lên bảng viết chữ "a", viết đẹp nhất lớp. Quân đứng ở cửa, hôm nay không cầm máy ảnh, tay cầm một hộp bánh in mua ở chợ.
Tôi ngồi xuống thảm. Tôi đặt chiếc nón lớn lên đùi. Sẻ nhìn thấy nó, mắt mở to. Con bé đi tới, ngồi xuống cạnh tôi, đưa tay sờ vành nón, sờ cái quai đã phai màu.
– Đây là cái nón cô làm mất đó. – tôi nói. – Chồng cô tìm thấy rồi.
Con bé nhìn tôi. Rồi nó cầm chiếc nón bằng hai tay, đứng dậy, đi tới cửa sổ. Nắng chiều cuối tháng Mười vàng như mật, rọi xiên qua tán cây bàng ngoài hồ sen, chiếu thẳng vào ô kính. Sẻ nghiêng vành nón, đưa lên trước mặt trời, như con bé đã làm cả buổi sáng hôm ở sạp o Liên.
Giữa hai lớp lá, nhịp cầu sắt hiện ra. Con đò hiện ra. Rồi hai câu thơ, nét chữ in hoa ngay hàng thẳng lối của một anh kỹ sư hai mươi bảy tuổi đã sửa bảy lần.
Sẻ đứng im rất lâu. Tôi ngồi yên. Ở cửa, Quân đứng yên. Không ai thở mạnh.
Rồi con bé quay lại nhìn tôi. Mắt nó sáng rực, như hôm nó xòe tay cho ba coi con cá cờ. Môi nó mấp máy. Một lần. Hai lần. Như người ta thử một cái máy lâu ngày không chạy.
– Có chữ. – Sẻ nói.
Giọng con bé khàn khàn, nhỏ xíu, như giọng người vừa ngủ dậy. Hai chữ thôi. Nhưng rõ ràng, tròn trịa, đúng giọng Huế của bà nội nó.
Tôi không dám động đậy. Tôi chỉ gật đầu, rất khẽ.
– Cô ơi. – con bé nói, lần này to hơn một chút. – Có chữ.
Ở cửa phòng, hộp bánh in rơi xuống sàn, vỡ tung, những chiếc bánh nhỏ màu trắng hồng lăn tứ tung trên nền gạch. Quân đứng đó, hai tay bịt mặt, vai rung lên. Lần này anh không khóc im lặng nữa. Anh khóc thành tiếng, khóc nấc như một đứa trẻ. Sẻ quay lại nhìn ba, nhìn những chiếc bánh lăn trên sàn, rồi nó làm một việc mà không ai trong phòng ngờ tới.
Nó bật cười. Một tiếng cười giòn tan, trong vắt, mười lăm tháng không ai được nghe.
Một tuần sau, Quân khai trương tiệm ảnh nhỏ gần cửa Thượng Tứ. Tấm ảnh đầu tiên treo trong tủ kính là ảnh Sẻ đứng bên cửa sổ, nghiêng chiếc nón lớn lên trước nắng, miệng há ra như đang nói. Anh chụp tấm ấy bằng điện thoại của bà Hai, hôm đó, trong lúc anh còn chưa kịp lau nước mắt. Ảnh nhòe, lệch, ngược sáng. Anh bảo đó là tấm ảnh đẹp nhất đời anh.
Anh chụp cho tôi với Trí một tấm, đứng trước cửa tiệm. Lúc bấm máy, anh bảo Trí nghiêng người về phía tôi thêm một chút, rồi thêm chút nữa. Rồi anh hạ máy xuống, nhìn hai đứa tôi, cười.
– Chừ thì đúng góc rồi. – anh nói.
Chiều hôm ấy, Trí với tôi ghé sạp o Liên ở chợ Đông Ba. O ngồi chuốt nan như mọi khi, ngẩng lên thấy hai đứa, mắt híp lại cười.
– Lần ni lại đặt nón hả cậu Trí?
– Dạ. – Trí nói. – Nhưng lần ni không phải con viết thơ.
Tôi lấy trong túi ra một miếng giấy gấp nhỏ bằng bao diêm. Tôi mở nó ra. Mặt trước là tờ đơn thuận tình ly hôn, chữ in hoa ngay hàng thẳng lối, một chữ ký, một ô trống. Mặt sau, tôi đã viết hai câu thơ bằng bút bi xanh, viết từ đêm hôm trước, sửa đi sửa lại cũng gần bảy lần.
– O cắt chữ từ tờ giấy ni được không o? – tôi hỏi. – Giấy hơi mỏng.
O Liên cầm tờ giấy lên, lật qua lật lại, đọc mặt trước, đọc mặt sau. O nhìn tôi rất lâu qua cặp kính lão. Rồi o gật đầu.
– Mỏng mới tốt. – o nói. – Mỏng thì nắng soi qua mới rõ.
Hoàng hôn hôm ấy, chúng tôi đi bộ ra bến Tòa Khâm, chỗ chín năm trước một anh kỹ sư đen nhẻm đã đứng chờ tôi với chiếc nón lá mới tinh. Sông Hương sau lũ còn đục, nhưng đã hiền lại, lững lờ trôi về phía cầu Trường Tiền. Mặt trời đang lặn phía Kim Long, đỏ như hòn than.
Trí đứng sau lưng tôi. Tôi nghiêng chiếc nón cũ, đưa lên trước nắng, đọc lại hai câu thơ của anh lần cuối trước khi nó được treo trở lại trên vách nhà. Rồi tôi đọc to hai câu thơ của tôi, hai câu chưa có trong chiếc nón nào, hai câu đang nằm trên mặt sau một tờ đơn chờ o Liên cắt thành chữ:
– Bên này sông có hai người. Đợi nhau qua hết một đời nắng mưa.
Trí không nói gì. Anh vòng tay qua vai tôi, đỡ lấy vành nón, nghiêng nó xuống thấp hơn một chút, thấp tới mức che kín mặt hai đứa khỏi những người đang đi dạo dọc bờ sông.
Dưới vành nón, mặt trời lọt qua hai lớp lá thành một quầng sáng vàng nhạt. Anh cúi xuống. Tôi nhắm mắt lại. Lần này tôi không cần soi nắng mới thấy.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe