AI Truyện
Chiếc ghim hoa mai thiếu một cánh

🔍 Trinh thám

Đám cưới không có một tấm ảnh

Chiếc ghim hoa mai thiếu một cánh · Chương 4/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Đám cưới không có một tấm ảnh

Khung ảnh cưới treo trên tường nhà chị Hà không phải là ảnh. Đấy là một bức tranh chì than trên giấy croki, đã ngả vàng sau lớp kính: một cô dâu áo dài đỏ, một chú rể com lê, đứng dưới cái rạp bạt có treo dây đèn. Mặt cô dâu vẽ rất kỹ. Mặt chú rể thì hơi lệch, như người vẽ không chắc lắm.

– Năm chín tám tôi thuê ông hoạ sĩ vỉa hè ở vườn hoa vẽ đấy, – chị Hà nói, đặt bát bánh đa cua xuống trước mặt Ánh Ngọc. – Vẽ theo lời tôi tả. Ông ấy bảo chú rể khó vẽ, vì tôi tả chú rể không rõ. Tôi bảo tôi lấy chồng mà có nhìn chồng đâu, cả buổi chỉ lo cái áo dài khỏi dẫm phải.

Chị cười to, cái cười của người bán hàng ở chợ Hàng hai mươi năm. Quán bánh đa cua của chị nằm cuối dãy hàng ăn, có bốn cái bàn gỗ thấp, nồi nước dùng to bằng cái thùng phuy sôi lục bục trên bếp than. Chị năm mươi mốt tuổi, người chắc nịch, hai cánh tay đỏ au vì hơi nóng, đeo cái tạp dề in hoa. Bức tranh chì than ấy chị không treo ở nhà mà treo ngay ở quán, trên cái tủ đựng bát, cạnh tờ giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm.

Sáng hôm ấy, trước khi ra chợ, cô đã giao ảnh cho bà Lài. Cô làm xong từ đêm qua, gấp tập bản án lại rồi ngồi vào bàn một mạch đến sáng, vì không ngủ được. Nửa mặt bên trái của anh Toàn, cô dựng lại từ nửa mặt bên phải, lật ngược, rồi sửa từng chút cho khỏi giống hệt, vì mặt người không bao giờ đối xứng thật. Cái nốt ruồi trên má trái thì cô lấy từ tấm ảnh căn cước bé xíu, phóng lên, đặt đúng chỗ, đúng cỡ, đúng cái bóng mờ của nó dưới ánh đèn phòng chụp năm ấy.

Bà Lài cầm tấm ảnh, đưa ra xa, rồi đưa lại gần. Bà không nói gì. Bà đưa ngón tay cái miết lên cái nốt ruồi, như miết lên má một người đang sống.

– Đúng nó rồi, – bà nói. – Đúng thằng Toàn nhà tôi rồi.

– Cái nốt ruồi là từ ảnh căn cước của anh ấy đấy bà. Cháu không vẽ thêm gì.

– Tôi biết. – Bà Lài lau mắt bằng vạt áo. – Cô mà vẽ thêm thì tôi biết ngay. Mẹ nào chả biết mặt con.

Bà trả tiền, đếm từng tờ, rồi để lại túi cam trên quầy. Ánh Ngọc tiễn bà ra cửa, nhìn bà chống gậy đi dọc phố Hàng Kênh trong gió, tấm ảnh ôm chặt trước ngực. Cô đứng ở bậc tiệm rất lâu.

Ba cô dạy cô nghề này hai mươi năm. Cái điều ông dặn đi dặn lại không phải là cách pha màu hay cách dựng nền. Ông dặn: người ta mang ảnh đến cho mình là người ta mang trí nhớ của người ta đến. Mình sửa ảnh, mình không được sửa trí nhớ. Một người dặn con như thế, cả đời, thì làm sao người ấy lại nói dối trước toà được.

Ánh Ngọc tìm được chị chỉ mất một buổi sáng. Cô gọi điện cho Nhung, Nhung gọi cho một bà bác họ, bà bác họ bảo cô dâu năm ấy bán bánh đa cua ở chợ Hàng, ngay đầu cái xóm nhà mẹ đẻ chị ấy, ai cũng biết. Cô đến lúc mười giờ, quán đã qua lượt khách sáng. Cô gọi một bát, ăn hết, rồi mới nói mình là ai, con gái ai.

Chị Hà nghe xong thì ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện, chùi tay vào tạp dề.

– Con gái anh Kiệm à. – Chị nhìn cô kỹ hơn. – Trời ơi. Anh ấy mất rồi phải không? Tôi có nghe. Tội anh ấy.

– Chị nhớ ba em à?

– Nhớ chứ. Hôm ấy anh ấy chạy theo tôi cả buổi, bảo tôi đứng chỗ này, nghiêng đầu chỗ kia. Anh ấy hiền, nói nhỏ, tôi cứ phải hỏi lại. – Chị ngừng lại. – Hôm sau anh ấy đến nhà mẹ tôi, xin lỗi vì làm mất phim. Anh ấy quỳ xuống giữa nhà, khóc. Mẹ tôi phải đỡ dậy, bảo thôi, mất thì thôi, người còn là được, bên nhà dì Huệ đang có tang to.

Ánh Ngọc không nói được gì một lúc. Ba cô quỳ. Cô chưa bao giờ hình dung được ba cô quỳ trước ai.

– Chị Hà, hôm ấy chị có nhớ chú Sửu chụp đến lúc nào không?

Chị Hà ngước lên trần, chỗ có mấy con thạch sùng đang bò.

– Thì chú Sửu chụp suốt. Chú ấy to giọng, bảo cả nhà vào đứng hàng, ai nói chuyện thì chú quát. Đến lúc cắt bánh thì chú bắt tôi với nhà tôi cầm dao cắt đi cắt lại ba lần, vì cái đèn nháy của chú không nháy. Cả rạp cười. Tôi nhớ rõ vì tôi xấu hổ quá, mặt đỏ hơn cái áo.

– Lúc cắt bánh là mấy giờ?

– Chín giờ kém. Ông chú tôi làm chủ hôn, ông ấy cứ nhìn cái đồng hồ treo tường trong nhà mà giục, bảo chín giờ phải cắt bánh cho khách về, mai còn đi làm.

– Thế chị có khai với công an như thế không?

Chị Hà nhìn cô. Mặt chị sụp xuống, như người bị hỏi đúng chỗ đau.

– Lúc công an hỏi thì tôi đã về nhà chồng ở quê rồi. Tôi có bầu, nghén lên nghén xuống. Có một anh công an về tận nơi, hỏi có mấy câu, hỏi thợ ảnh nào chụp lúc cắt bánh. Tôi bảo tôi không để ý. Tôi không để ý thật mà, em. Đèn nháy nó loá cả mắt, tôi biết ai cầm máy đâu. Có hai ông thợ, ông nào cũng cầm máy, ông nào cũng đeo cái túi. Mẹ tôi thì bảo tôi đừng nói lung tung, việc của người lớn.

– Chị có nhớ dì Huệ của chị hôm ấy thế nào không?

Chị Hà cười, lần này cái cười chua chát.

– Nhớ chứ. Dì Huệ là người đẹp nhất cái đám cưới ấy. Đẹp hơn cả cô dâu. Mẹ tôi với dì may hai cái áo dài tím giống nhau, định chụp chung một kiểu hai chị em. Thế mà chụp được có một kiểu lúc chiều, đến tối thì dì đi đâu mất, lúc dì quay lại thì dì mặc cái áo dài xanh rêu. Dì bảo dì bị bưng hộ bát canh, đổ hết lên người, phải về thay. Mẹ tôi tiếc cái kiểu ảnh hai chị em, cằn nhằn mãi. Rồi về đến nhà dì thì…

Chị Hà không nói hết câu. Ánh Ngọc cũng không bảo chị nói hết.

– Dì đi mất lúc mấy giờ hả chị?

– Ôi, tôi biết đâu. – Chị Hà xua tay. – Lúc trời tối rồi. Lúc ấy chú rể nhà tôi đang bị bạn bè bắt uống rượu. Mà sao em hỏi kỹ thế?

Ánh Ngọc không trả lời ngay. Cô nhìn bức tranh chì than trên tủ bát. Cô dâu, chú rể, cái rạp có dây đèn. Không có ông chủ hôn, không có đồng hồ, không có ai cầm máy ảnh, không có hai chị em mặc áo dài tím. Một đám cưới chỉ còn lại trong trí nhớ của một người, mà trí nhớ thì người ta tô vẽ lại mỗi năm một ít.

– Bác Sửu đang nằm viện, – cô nói. – Bác ấy sắp mất. Bác ấy vẫn nói bác ấy chụp đến lúc cắt bánh, chụp đến khi khách về.

– Thì chú ấy chụp thật mà. – Chị Hà nói, rồi khựng lại, như vừa nghe thấy chính câu mình nói. Một lúc lâu chị mới nói tiếp, giọng nhỏ hẳn. – Em ạ, hai mươi chín năm nay tôi tưởng ông thợ ảnh chụp lúc cắt bánh là anh Kiệm. Vì toà bảo chú Sửu về từ năm giờ. Toà bảo thế thì tôi tin thế. Tôi chưa bao giờ nghĩ lại. Bây giờ em hỏi, tôi mới nhớ cái giọng chú Sửu quát tôi cắt bánh lại. Cái giọng ấy không phải giọng anh Kiệm. Anh Kiệm nói nhỏ lắm.

Hai người ngồi im. Nồi nước dùng vẫn sôi lục bục. Một bà khách quen vào gọi một bát, chị Hà đứng dậy, múc bánh, chan nước, bê ra, rồi lại ngồi xuống, tay run làm rơi cái muôi xuống đất.

– Tôi phải gọi cho dì Huệ, – chị nói, như nói với chính mình. – Dì phải biết chuyện này.

– Chị đừng gọi vội, – Ánh Ngọc nói nhanh. – Chị để em…

Nhưng chị Hà đã rút điện thoại ra. Chị không gọi, chị bấm một tin nhắn, ngón tay to bấm từng chữ chậm chạp. Ánh Ngọc nhìn thấy chữ "Dì ơi" ở đầu tin. Cô không ngăn được. Cô không có quyền ngăn. Chị Hà là cháu, bà Huệ là dì, và trong mắt chị Hà lúc ấy, bà Huệ là người vợ goá cần được biết rằng có người đang khơi lại cái chết của chồng mình.

Chị Hà bấm gửi, rồi ngẩng lên.

– Mà em này, – chị nói. – Hôm ấy anh Kiệm cũng chụp. Anh ấy cầm cái máy thứ hai, chạy theo tôi cả buổi chiều lẫn buổi tối, anh ấy chụp tôi lúc thay áo, lúc ăn cơm, lúc khóc với mẹ. Phim của chú Sửu mất thì đã đành. Phim của anh Kiệm cũng mất à?

Ánh Ngọc trả tiền bát bánh đa, đứng dậy. Cô nói cảm ơn chị, cô sẽ quay lại. Cô dắt xe ra khỏi chợ, đi ngược chiều dòng người đi chợ trưa. Chữ "Dì ơi" trên màn hình điện thoại chị Hà cứ hiện lại trước mắt cô.

Ba cô đã khai rằng túi phim mất lúc dọn rạp. Ông Sửu nói túi chỉ đựng hai cuộn của ông, cuộn của ba cô còn nằm trong máy. Ba cô bỏ nghề, đốt hết đồ của năm chín bảy trong cái chậu nhôm ngoài ban công. Mẹ cô đứng nhìn. Rồi mẹ cô đi lật hết khung ảnh trong nhà, vì mẹ biết ba cô có cái tật giấu đồ quý sau ảnh.

Mẹ lật hết khung ảnh trong nhà từ năm chín bảy. Nhưng cái khung gỗ cánh gián treo trên tường phòng khách, cái khung lồng tấm ảnh bé gái ôm con vịt nhựa, thì mẹ có lật không?

Cô nhớ ra rằng cái khung ấy không phải lúc nào cũng là khung gỗ cánh gián. Trong cuốn album cũ có một tấm ảnh chụp sinh nhật cô sáu tuổi, sau ca mổ, cô ngồi dưới đúng tấm ảnh ấy, mà hồi ấy nó còn lồng trong một cái khung nhựa trắng. Cái khung gỗ là sau này mới thay. Ba cô thay. Cô không nhớ năm nào.

Ánh Ngọc rồ ga, rẽ về phía hồ An Biên.

— Hết chương 4 —

Mục lục Chiếc ghim hoa mai thiếu một cánh

  1. 1Người đàn ông cầm máy trên bãi Đồ Sơn10 phút đọc
  2. 2Bé gái ôm con vịt nhựa10 phút đọc
  3. 3Giường số mười hai9 phút đọc
  4. 4Đám cưới không có một tấm ảnh9 phút đọc
  5. 5Ba mươi sáu khung9 phút đọc
  6. 6Ba mươi triệu cho vay không lấy lãi9 phút đọc
  7. 7Cánh hoa thứ năm9 phút đọc
  8. 8Hồ sơ thứ ba trăm lẻ một9 phút đọc
  9. 9Hai cái bóng trong camera9 phút đọc
  10. 10Chiếc ghim cài hoa mai9 phút đọc
  11. 11Khung số ba mươi sáu10 phút đọc

Về truyện này

Chiếc ghim hoa mai thiếu một cánh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →