Chương 10: Chiếc ghim cài hoa mai
Khung ảnh không có trên phim. Đấy là một chiếc ghim cài thật, đặt trên mặt bàn đèn soi, ánh sáng trắng hắt từ dưới lên xuyên qua năm cánh mai. Bốn cánh ngả màu ngà như răng người già. Cánh thứ năm, cánh trên cùng, trắng tinh, trong hơn, ánh sáng đi qua nó dễ hơn đi qua bốn cánh kia.
Tám giờ kém năm, một chiếc xích lô dừng trước cửa tiệm. Bà Huệ bước xuống một mình. Bà mặc áo khoác dạ đen dài đến gối, quàng khăn len xám, tay cầm cái túi xách nhỏ. Bà trả tiền cho người đạp xích lô, bảo anh ta về, không phải chờ.
Ánh Ngọc mở cửa cuốn. Cái khoá mới thợ vừa lắp chiều nay còn bóng dầu.
Bà Huệ đứng ở bậc cửa một lúc, nhìn vào tiệm. Bà nhìn cái bàn đèn soi, cái giá ảnh, cái ghế khách. Bà nhìn lâu nhất tấm ảnh Đồ Sơn bản in mẫu dựng trên giá, người đàn ông ba mươi tuổi cười trên bãi biển.
– Anh Sửu ngày xưa đẹp trai, – bà nói. – Cả tiệm chỉ có anh ấy dám quát ông Khôi.
Bà ngồi xuống cái ghế khách, cái ghế sáng thứ Năm mẹ cô đã ngồi, tối thứ Năm con trai bà đã ngồi. Ở gần, bà già hơn trên ti vi nhiều. Phấn không che được mấy vết đồi mồi trên gò má. Hai bàn tay đặt trên túi xách gầy, đeo một chiếc nhẫn ngọc, chiếc nhẫn cô nhớ từ năm mười tám tuổi. Trên ngực áo dạ đen, chiếc ghim hoa mai.
– Cô cho tôi xem khung ảnh lúc cắt bánh.
Ánh Ngọc đặt tấm ảnh in phóng to khung ba mươi mốt lên bàn đèn soi. Bà Huệ cúi xuống nhìn. Bà nhìn người đàn bà áo xanh rêu đứng sau cô dâu, lâu như nhìn một người quen cũ gặp lại ngoài đường mà không chắc có nên chào không.
Rồi bà đưa tay lên ngực, tháo chiếc ghim ra, đặt nó lên mặt kính bàn đèn soi, ngay cạnh tấm ảnh.
– Năm chín tám tôi mang nó lên phố Hàng Bạc ở Hà Nội, nhờ người ta làm lại một cánh, – bà nói. – Người thợ bảo không có nhựa cũ cùng màu, chỉ có loại mới. Tôi bảo được. Tôi muốn nó trắng hơn. Tôi muốn mỗi lần soi gương tôi phải thấy cái cánh ấy.
Ánh Ngọc không nói gì. Cô nhìn chiếc ghim dưới ánh đèn. Bốn cánh ngà, một cánh trắng.
– Cô đọc bản án rồi, – bà Huệ nói. – Cái mảnh nhựa dưới người ông Khôi. Hai mươi chín năm tôi chờ có ai đến hỏi tôi về nó. Không ai hỏi.
Bà kể. Bà không khóc, không dừng lại, giọng đều đều như người đọc một tờ giấy đã thuộc lòng.
Hôm ấy thằng Tuấn mười một tuổi, sốt từ sáng, bà để nó ở nhà với bố. Ông Khôi không đi đám cưới, ông bảo nhà vợ không ưa ông, ông ở nhà trông con. Bảy giờ rưỡi tối, nhà gái có điện thoại bàn, người ta gọi bà vào nghe. Là thằng Tuấn. Nó khóc, nói không ra hơi. Bố say, bố đập vỡ cái chậu thuốc, bố bắt nó vào buồng tối dọn, nó làm đổ, bố đánh nó.
– Tôi chạy về, – bà nói. – Tôi không nghĩ gì. Lối cửa sau là lối gần nhất từ chợ. Tôi đi xích lô đến đầu ngõ, chạy bộ vào. Cửa sau mở, ông ấy mở để đi uống rượu. Tôi lên tầng hai. Đèn đỏ trong buồng tối sáng. Ông ấy đang túm cổ áo thằng Tuấn.
Bà kéo con ra. Ông Khôi quay sang bà. Ông túm lấy ngực áo bà, giật mạnh, chiếc ghim gãy một cánh rơi xuống sàn. Ông giơ tay lên. Bà đẩy ông bằng cả hai tay, đẩy bằng tất cả mười tám năm. Ông ngã ngửa ra sau, đầu đập vào góc sắt của cái bàn máy phóng ảnh. Ông không dậy nữa.
– Tôi gọi ông ấy. Tôi lay ông ấy. Thằng Tuấn đứng ở cửa buồng tối, nhìn. – Bà Huệ ngừng lại, lần đầu tiên. – Tôi bảo nó, con lên giường nằm, con không thấy gì cả, con ngủ đi. Nó đi. Nó không khóc nữa. Nó không khóc một lần nào nữa cho đến tận năm nó hai mươi tuổi.
Cái áo dài tím rách cả vạt ngực, loang những vệt sẫm. Bà thay cái áo dài xanh rêu, cái áo duy nhất trong tủ còn mặc được đi đám cưới. Bà gói cái áo tím vào túi ni lông, nhét xuống đáy tủ, mấy hôm sau mang ra bãi rác ngoài đê. Bà đi lối cửa sau quay lại đám cưới, bảo chị gái bị đổ bát canh.
– Cô sẽ hỏi tôi vì sao tôi không gọi người, – bà nói. – Tôi đã hỏi tôi câu ấy hai mươi chín năm. Tôi chỉ nhớ lúc ấy tôi nghĩ đến hai đứa con. Tôi đi tù thì chúng nó ở với ai. Tôi nghĩ thế, rồi tôi làm thế. Không có lý do nào khác cao hơn.
Chín giờ hai mươi, bà về bằng cửa trước, như một người đi đám cưới về. Bà lên nhà, cài then cửa sau từ bên trong. Rồi bà chạy ra giữa đường. Bà không phải diễn đoạn ấy. Đến lúc ấy bà mới gào được.
– Tôi không định đổ cho anh Sửu, – bà nói. – Tôi thề với cô điều ấy, dù cô chẳng có lý do gì để tin tôi. Công an tự nghĩ đến anh ấy, vì trưa hôm ấy hai người cãi nhau cả phố nghe. Tôi chỉ im. Tôi im ba ngày. Rồi tôi nghe người ta nói anh Kiệm khai không nhớ gì, người ta nói nếu không đủ chứng cứ thì phải thả anh Sửu, rồi sẽ hỏi lại từ đầu, hỏi người nhà. Thằng Tuấn mười một tuổi. Người ta sẽ hỏi nó.
Bà nhìn Ánh Ngọc.
– Tôi đến nhà cô. Cô năm tuổi, nằm trong buồng, tôi nghe tiếng cô thở qua cánh cửa, như tiếng ống bễ. Tôi đưa anh Kiệm phong bì. Tôi không nói một câu nào về anh Sửu. Tôi không cần nói. Anh Kiệm hiểu. Hôm sau anh ấy mang cái túi phim đến cho tôi. Anh ấy bảo ba cuộn đều ở trong. Tôi đốt cả túi trong cái thùng sắt sau nhà. Tôi không mở ra đếm. – Bà nhìn sáu dải phim in trên tấm ảnh. – Bây giờ tôi mới biết anh ấy chỉ đưa tôi hai cuộn.
Bà im lặng rất lâu. Ngoài phố, gió mùa thổi lật cái biển hiệu nhựa của tiệm bên cạnh, kêu lạch cạch.
– Tôi bán tiệm. Tôi làm lại từ đầu. Tôi lấy bông mai làm biểu tượng, cho tôi nhớ. Người ta bảo tôi chung thuỷ với chồng. – Bà cười, một cái cười không có tiếng. – Năm nào tôi cũng gửi tiền cho mẹ anh Sửu, không ghi tên, đến khi bà cụ mất. Năm nào tôi cũng cho người mang quà Tết đến nhà cô, đến khi anh Kiệm bảo đừng mang nữa. Năm cô mười tám, tôi thấy tên cô trong chồng hồ sơ bị loại. Tôi rút ra. Tôi tưởng thế là trả được một ít. Không trả được gì cả, cô ạ. Tôi biết từ lúc tôi đặt tay lên vai cô trên sân khấu. Cô cười với tôi. Cô không biết cô đang cười với ai.
Ánh Ngọc đứng dậy, đi ra cửa, đứng quay lưng lại với bà một lúc. Cô không muốn bà nhìn thấy mặt mình. Cô cũng không biết trên mặt mình lúc ấy là cái gì.
– Sáng nay công an gọi thằng Tuấn lên, – bà Huệ nói sau lưng cô. – Về chuyện tiệm cô. Nó về, nó nói với tôi. Nó thuê người. Nó tưởng lấy được cuộn phim là xong. Hai mươi chín năm nó giữ cho tôi một điều nó thấy năm mười một tuổi, nó không biết làm cách nào khác để giữ tiếp. – Giọng bà lần đầu tiên run. – Tôi đã để con tôi lớn lên trong cái điều ấy. Đấy là tội lớn nhất của tôi. Lớn hơn cả anh Sửu.
– Sao bà đến hôm nay? – Ánh Ngọc hỏi, vẫn quay lưng. – Bà có hai mươi chín năm.
– Cô muốn tôi nói thật hay nói cho đẹp?
– Thật.
– Thì tôi đến vì hết đường im. – Bà Huệ nói, không do dự. – Thằng Tuấn kể cô đã đưa phim gốc cho luật sư. Công an đã có tên nó. Không ai lấy được cuộn phim ấy nữa. Nếu cuộn phim ấy vẫn nằm sau một cái khung ảnh nào đó, có khi tôi vẫn im, đến chết. Tôi không muốn cô nghĩ tôi tốt hơn thế. – Bà ngừng lại. – Còn một lẽ nữa. Anh Sửu sắp mất. Tôi đã để anh ấy sống mười sáu năm trong tù vì tôi. Tôi không để anh ấy chết mà không được nghe một người nói ra.
Ánh Ngọc quay lại. Bà Huệ vẫn ngồi thẳng lưng trên cái ghế khách, hai tay đặt trên túi xách, chiếc ghim nằm trên bàn đèn soi trước mặt bà, sáng trắng một cánh.
– Bà muốn gì ở cháu? – Ánh Ngọc hỏi.
– Sáng mai tôi đến công an, có luật sư của tôi đi cùng. Tôi sẽ kể như tôi vừa kể với cô. Sau ngần ấy năm, pháp luật làm gì với tôi thì tôi không biết, cái ấy là việc của pháp luật. – Bà ngừng. – Tôi chỉ xin cô một việc. Trước khi tôi đi, cô đưa tôi vào gặp anh Sửu. Tôi muốn nói với anh ấy trước. Anh ấy phải là người đầu tiên được nghe.
Ánh Ngọc định trả lời, thì cánh cửa cuốn rung lên. Có ai đó cúi người lách vào dưới cánh cửa kéo hờ, thở hổn hển như vừa chạy.
Mạc Đình Tuấn. Không áo măng tô, không cặp da, chỉ một cái áo len cổ lọ, tóc rối. Anh ta nhìn mẹ, nhìn chiếc ghim đặt trên bàn đèn soi, nhìn tấm ảnh người đàn bà áo xanh rêu, rồi nhìn Ánh Ngọc.
– Mẹ, – anh ta nói. – Mẹ về đi. Mẹ không phải nói gì cả.
– Con vào đây, – bà Huệ nói. – Ngồi xuống.
Tuấn không ngồi. Anh ta đứng giữa tiệm, hai tay buông thõng, và trong một giây Ánh Ngọc thấy rõ một đứa trẻ mười một tuổi đứng ở cửa buồng tối, ánh đèn đỏ hắt lên mặt.
– Nếu mẹ nói, – anh ta nói, giọng vỡ ra, – thì con cũng phải nói. Đêm ấy con ở đấy. Người ta sẽ hỏi con. Mà con nhớ hết, mẹ ạ. Con nhớ cả cái điều mà mẹ không biết là con nhớ.
— Hết chương 10 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe