Chương 2: Bé gái ôm con vịt nhựa
Khung ảnh màu đã ngả vàng, lồng trong cái khung gỗ sơn cánh gián, treo trên tường phòng khách nhà mẹ gần ba mươi năm nay. Một bé gái năm tuổi ngồi trên cái ghế mây, tóc cắt ngố, hai tay ôm một con vịt nhựa màu vàng to gần bằng người. Môi con bé hơi tím. Nó không cười, nó nhìn thẳng vào ống kính như nhìn một người lạ.
Mẹ cô không mở cửa ngay. Ánh Ngọc đứng ở hành lang tầng ba khu tập thể cạnh hồ An Biên, gõ đến lần thứ ba thì mới nghe tiếng dép lẹp xẹp và tiếng then cài kéo ra.
– Đêm hôm mày sang làm gì?
– Mẹ hỏi con ai bảo con hỏi. Thì con sang để trả lời.
Bà Nết năm mươi sáu tuổi, người nhỏ, tóc nhuộm đen nhánh, mặc bộ đồ bộ hoa tím. Bà quay vào bếp đặt ấm nước, như mọi lần con gái sang, rồi ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện. Bà không hỏi gì. Bà chờ.
Ánh Ngọc kể. Nhung, tấm ảnh Đồ Sơn, câu nói "ông Kiệm giữ cuộn phim đám cưới". Mẹ cô nghe đến tên Sửu thì hai tay đan vào nhau, nghe đến chữ "cuộn phim" thì hai bàn tay siết lại đến trắng các khớp.
– Ba mày có chụp, – bà nói, khi cô kể xong. – Hôm ấy ông Sửu nhận chụp đám cưới con cháu bà chủ, ông ấy cầm máy chính, ba mày cầm máy phụ, đeo túi đồ. Chụp xong thì phim mất hết. Ba mày để cái túi ở góc rạp, lúc dọn về thì không thấy túi đâu. Người ta bảo trộm lấy, đám cưới đông người.
– Ông Sửu bảo ông ấy ở đám cưới đến chín giờ tối.
– Ông Sửu bảo thế, – mẹ cô nói. – Ba mày bảo ông ấy về từ năm giờ chiều. Toà tin ba mày, vì bà Huệ cũng nói thế. Ông Sửu cãi nhau với ông Khôi chuyện tiền góp vốn từ trưa hôm ấy, cả phố nghe thấy. Đấy, mày biết thế thôi.
Ấm nước sôi. Bà đứng dậy pha trà. Ánh Ngọc nhìn theo lưng mẹ. Ba mươi bốn năm làm con, cô chưa bao giờ thấy mẹ pha trà mà đổ nước sôi ra ngoài chén.
– Mẹ ơi, trước khi mất, ba bảo con là ba nợ người ta một cuộn phim.
Bà Nết đặt cái ấm xuống. Bà lấy khăn lau chỗ nước đổ trên mặt bàn, lau rất lâu, lau cả những chỗ không có nước.
– Ba mày mê sảng, – bà nói. – Gan người ta hỏng thì người ta mê sảng. Bác sĩ bảo thế.
– Thế năm chín bảy ba không có cuộn phim nào cả. Con lục hết đồ của ba rồi. Năm nào cũng có. Năm chín bảy ba còn làm ở tiệm nửa năm mà không có lấy một cuộn.
– Năm ấy ba mày bỏ nghề. – Bà ngồi xuống, nhìn ra cửa sổ. – Sau vụ ấy ba mày không chụp nữa. Bà Huệ bán tiệm. Ba mày về nhà, đốt hết đồ của năm ấy trong cái chậu nhôm ngoài ban công, mẹ đứng nhìn. Mày hỏi mẹ có cuộn phim nào không thì mẹ bảo mày, đốt rồi.
Ánh Ngọc không nói gì. Cô uống chén trà. Trà nguội nhanh trong cái gió mùa lùa qua khe cửa sổ. Trên tường phòng khách, cái ảnh cô năm tuổi ôm con vịt nhựa vẫn treo ở chỗ cũ, cạnh cái lịch treo tường của phường.
Ba cô chụp tấm ảnh ấy một tuần trước khi cô vào viện mổ tim. Mẹ kể thế. Ông đặt cô ngồi trên cái ghế mây ở ban công, bảo cô ôm con vịt, chụp mấy kiểu, chọn kiểu này phóng to lồng khung. Mẹ bảo lúc ấy ông muốn có một tấm ảnh thật đẹp của con, phòng khi. Mẹ không nói hết câu, nhưng Ánh Ngọc lớn lên vẫn hiểu chữ "phòng khi" ấy nghĩa là gì. Năm chín bảy, mổ tim cho trẻ con ở Hà Nội không phải chuyện chắc ăn.
– Mẹ ơi, tiền mổ tim cho con năm ấy ở đâu ra?
Mẹ cô quay phắt lại.
– Mày hỏi cái ấy làm gì?
– Con chưa hỏi bao giờ. Hôm nay con hỏi.
– Thì nhà mình vay. Vay họ hàng, vay chỗ làm. Ba mày trả mấy năm mới hết. – Bà Nết đứng dậy, cầm ấm trà vào bếp, dù trong ấm vẫn còn trà. – Muộn rồi, mày về đi. Mai còn mở hàng.
Ánh Ngọc không về ngay. Cô đi vào cái phòng nhỏ cuối nhà, nơi ngày trước là phòng làm việc của ba. Bây giờ mẹ cô kê cái máy khâu ở đấy, cái bàn gỗ của ba vẫn còn, trên mặt bàn chỉ còn cái đèn bàn và một hộp kim chỉ. Ngăn kéo bàn cô đã lục từ tháng Hai, lúc dọn đồ đem về tiệm. Cô lục lại lần nữa. Bút chì, cục tẩy, mấy cái kẹp phơi phim, một cuốn danh bạ điện thoại cũ đã ố, mấy tờ hoá đơn tiền điện năm hai nghìn lẻ mấy. Không có gì.
– Mày tìm cái gì? – mẹ cô đứng ở cửa phòng.
– Con không biết.
Bà Nết nhìn con gái một lúc, rồi thở dài. Lần đầu tiên trong buổi tối ấy, giọng bà mềm đi.
– Ba mày có cái tật giấu đồ sau khung ảnh, – bà nói. – Ngày xưa lĩnh lương về, ông ấy không đưa mẹ ngay, ông ấy giấu sau khung ảnh cưới của hai đứa, bắt mẹ đi tìm, tìm được thì ông ấy cười. Ông ấy bảo cái gì quý thì cất sau ảnh. Mẹ lật hết khung ảnh trong nhà này ra từ năm chín bảy rồi. Không có cuộn phim nào cả. Mày về đi.
Ánh Ngọc về. Ngồi sau tay lái xe máy chạy dọc bờ hồ, cô nghĩ đến cái câu mẹ vừa nói. Mẹ lật hết khung ảnh trong nhà này ra từ năm chín bảy. Tức là năm chín bảy mẹ đã đi tìm. Tức là năm chín bảy mẹ đã nghĩ có một thứ gì đấy cần tìm.
Cô không đi thẳng về. Cô vòng qua phố Cầu Đất. Mười giờ đêm, phố vẫn sáng đèn biển hiệu, mấy cửa hàng điện thoại mở nhạc to. Cái nhà ba tầng ngày xưa là tiệm ảnh Nắng Mới bây giờ là một cửa hàng bán đồ gia dụng, mặt tiền ốp kính, tầng trên cùng tối om. Cô chưa từng đứng trước nó lâu như thế. Ba cô cả đời đi đường vòng để khỏi qua đây.
Bên kia đường, dưới gốc cây bàng, có một bà cụ bán nước chè vẫn chưa dọn hàng, cái ấm tích ủ trong giỏ bông. Ánh Ngọc dựng xe, ngồi xuống ghế nhựa, gọi một chén chè nóng.
– Bà bán ở đây lâu chưa bà?
– Bốn mươi năm, – bà cụ nói, rót chè. – Cái phố này đổi chủ mấy lượt, tôi vẫn ngồi đây.
– Cái nhà kia ngày xưa là tiệm ảnh phải không bà?
Bà cụ nhìn sang bên kia đường, rồi nhìn cô, cái nhìn của người đã nghe câu hỏi ấy từ nhiều người.
– Nắng Mới. Cô hỏi làm gì?
– Ba cháu ngày xưa làm thợ phụ ở đấy.
– Thằng Kiệm à? – Bà cụ ngẩn ra, rồi gật gù. – Thằng Kiệm hiền. Hay mua chè của tôi, chè nào cũng trả thêm tiền. Nó mất rồi phải không? Tôi có nghe.
Bà cụ kể, không cần cô hỏi thêm. Đêm ấy bà ngồi đúng chỗ này. Chín giờ hơn thì bà Huệ đi đám cưới về, mở cửa vào nhà, một lúc sau chạy ra giữa đường, gào lên. Cả phố đổ ra. Ông Khôi nằm trong buồng tối trên tầng hai, cái phòng rửa ảnh. Mấy hôm sau công an bắt ông Sửu. Trưa hôm ấy hai ông cãi nhau to, ông Khôi quát ông Sửu cút khỏi tiệm, cả phố nghe.
– Ông Khôi ấy, – bà cụ hạ giọng, dù chẳng có ai nghe, – uống rượu vào là đánh vợ. Cái phố này ai cũng biết. Có hôm bà Huệ chạy sang đây ngồi với tôi đến nửa đêm, mắt tím một bên, không dám về. Thế mà lúc ông ấy chết, bà ấy khóc ngất ba ngày. Đàn bà là thế, cô ạ.
Ánh Ngọc trả tiền chè, cảm ơn bà cụ. Lúc cô dắt xe đi, bà cụ còn nói với theo một câu, như nói với chính mình.
– Hôm ấy nó đi đám cưới cứ diện cái áo dài tím. Mấy năm về sau không thấy nó mặc màu tím nữa.
Về đến tiệm, cô không ngủ. Cô ngồi vào bàn, đặt tấm ảnh Đồ Sơn của ông Sửu lên máy quét, quét ở độ phân giải cao nhất. Trên màn hình, người đàn ông cười trên bãi biển phóng to lên gấp mười lần. Cô bắt đầu làm việc. Góc trời bị gián gặm, cô lấy phần trời bên cạnh, dựng lại từng chút, giữ đúng cái hạt của phim, đúng cái nhoè của mây. Mặt người đàn ông thì cô không chạm vào, chỉ làm sạch mấy vết xước, mấy hạt bụi. Cô làm đến hai giờ sáng.
Rồi, không biết vì sao, cô mở trang tìm kiếm, gõ tên bà Lưu Thị Huệ.
Kết quả hiện ra hàng trăm bài báo. Nữ doanh nhân, chuỗi áo cưới, quỹ học bổng, giải thưởng. Ánh Ngọc lướt qua, rồi dừng ở một bài phỏng vấn cũ đăng trên một tờ báo phụ nữ từ năm hai nghìn lẻ chín. Bà Huệ kể đời mình. Chồng mất năm chín bảy, để lại một tiệm ảnh và hai đứa con. Bà bán tiệm ảnh, khởi nghiệp lại từ hai bộ áo cưới cho thuê trong một gian hàng chợ. Phóng viên hỏi vì sao chọn bông mai trắng làm biểu tượng. Bà trả lời: đấy là chiếc ghim cài áo chồng tôi tặng ngày cưới, tôi đeo nó từ ngày cưới, đeo cả trong ngày khó khăn nhất đời mình.
Ảnh minh hoạ bài báo là một bức chân dung bà Huệ ngồi trong cửa hàng, ngực áo cài chiếc ghim hoa mai. Ảnh nhỏ, độ phân giải thấp, nhưng Ánh Ngọc vẫn phóng to lên. Năm cánh. Cánh trên cùng trắng hơn bốn cánh kia.
Cô ngồi nhìn chiếc ghim rất lâu. Rồi cô tự cười mình. Một cái ghim cài áo cũ, sứt một cánh, đem đi sửa, cánh mới không cùng màu cánh cũ. Ở Hải Phòng có hàng nghìn món đồ như thế. Bà cô cũng có cái vòng bạc nối lại một khúc, sáng hơn hẳn mấy khúc kia. Người làm nghề nhìn đâu cũng thấy vết sửa, ba cô bảo thế, và bảo đấy là bệnh nghề nghiệp, đừng để nó làm mình nghi oan người ta.
Cô đóng máy, nằm xuống cái ghế xếp ở phòng sau, kéo chăn lên đến cằm. Gió mùa rít qua khe cửa cuốn. Cô chưa kịp ngủ thì điện thoại rung. Một tin nhắn từ số lạ, gửi lúc hai giờ bốn mươi sáng.
"Chị Ngọc, em là Nhung. Ba em vừa lên cơn khó thở, bác sĩ cho thở máy rồi lại bỏ ra. Ba em tỉnh lại thì đòi gặp chị. Ba em bảo có mấy điều ba em phải nói trước khi không nói được nữa. Mai chị đến được không, khoa ung bướu, giường số mười hai."
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe