AI Truyện

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Lò số chín nứt lúc canh tư

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba · Chương 1/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc🎧 9 phút · giọng Bảo Việt

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Lò số chín nứt lúc canh tư, và tới…
  2. 1:42Thưa đường chủ, – cô nói, – con xin…
  3. 2:33Cô thò tay vào miệng lò, cạo nhẹ móng…
  4. 3:50Thuốc nam. – Ông lặp lại, rất khẽ.
  5. 4:45Nghi cắn một miếng bánh. Nhân đậu xanh ngọt…
  6. 6:11Dưới hầm tối, chỉ có ánh đỏ hắt lên…
  7. 7:19Viên An Nghi. Tẩy lò.
  8. 9:10Ở chỗ tối, tiếng que tre ngừng gõ.

Chương 1: Lò số chín nứt lúc canh tư

Lò số chín nứt lúc canh tư, và tới giờ Thìn, người bị gọi lên Đan Đường là người đã rửa nó.

Viên An Nghi quỳ trên nền gạch đỏ, hai đầu gối còn dính cát sông. Trước mặt cô, cái lò đồng ba chân cao ngang ngực người nằm nghiêng trên tấm phản, thân lò toác một đường dài cỡ gang tay, mép đồng xám đi như miệng chén sứt. Mùi thuốc cháy còn quẩn trong gian đại sảnh, khét, ngai ngái, giống mùi nồi cơm bị quên trên bếp.

– Ba năm nay ai cọ lò số chín? – Quản sự Quách Bảo hỏi, tay chống nạnh, giọng to như gọi đò.

– Dạ, con. – Nghi đáp.

– Cọ bằng gì?

– Dạ, cát sông với xơ mướp.

– Cát sông. – Quách Bảo quay sang chiếc ghế gỗ trắc ở giữa sảnh, nói như đọc bản án. – Thưa đường chủ, cát sông mài mòn thành lò, ba năm thì mỏng đi một lớp. Đêm qua lửa vừa lên nén hương thứ năm là lò bung. May cho Tử Mặc đứng lùi được hai bước.

Người ngồi trên ghế là Lã Đình Khiêm, đường chủ Đan Đường của Vọng Dược Tông. Tóc ông bạc trắng mà mặt không một nếp nhăn, tu vi Tụ Hồ, đã ngồi chiếc ghế ấy hai mươi lăm năm. Ông không nói gì, chỉ gõ nhẹ hai ngón tay lên tay ghế.

Đứng cạnh ghế là Lã Tử Mặc, cháu ruột của ông, đan đồng đứng đầu Đan Đường. Áo trắng của Mặc còn vệt khói đen ở vạt, mắt đỏ như thức trắng. Anh nhìn cái lò, không nhìn ai.

Ở Vọng Dược Tông, chuyện này ai cũng biết: nữ đệ tử vào Đan Đường chỉ được làm ba việc. Thái thuốc, khiêng thuốc, rửa lò. Không ai được đứng lò. Lệnh ấy khắc trên tấm bảng gỗ treo ngay cửa sảnh, chữ sơn son đã bong, gọi là Lệnh Cấm Lò. Người ta bảo nữ tử âm khí nặng, đứng gần lửa đan thì lửa không vượng. Nghi lên núi ba năm, rửa lò ba năm, chưa lần nào được chạm tay vào ấn lửa.

Cô biết nếu nhận tội, nhẹ thì bị trừ ba tháng lương, nặng thì bị đuổi về chợ Cầu Tre, nơi mẹ cô đang bán thuốc nam dưới gốc gạo bên bến sông Lạc Thủy. Cô cũng biết, cái lò này không phải vì cát sông mà nứt.

– Thưa đường chủ, – cô nói, – con xin được nhìn vết nứt một chút.

Quách Bảo cười khẩy:

– Nhìn thì nó lành lại à?

– Không lành, thưa quản sự. Nhưng nó nói được.

Lã Đình Khiêm ngừng gõ ngón tay. Ông nhìn cô lâu một nhịp, rồi gật đầu.

Nghi bò lại gần cái lò. Thứ đầu tiên cô làm là đặt lòng bàn tay lên thân đồng, chỗ cách vết nứt một gang. Đồng đã nguội. Cô lướt ngón tay dọc mép vết nứt, từ dưới lên trên, rồi từ trên xuống dưới. Mép đồng không thẳng. Nó cong ra ngoài, như cánh hoa vừa nở, sắc tới mức suýt cứa vào tay cô.

– Quản sự sờ thử chỗ này. – Cô nói.

Quách Bảo không sờ. Mặc thì có. Anh bước tới, cúi xuống, chạm ngón tay vào mép đồng rồi rụt lại.

– Mép lật ra ngoài. – Nghi nói. – Thành lò mà mỏng do cọ thì nó sụp vào trong, như cái thau đồng bị bóp méo. Đằng này nó bung ra. Có cái gì trong lòng lò đẩy nó.

– Lửa đan thì đẩy là chuyện thường. – Quách Bảo cãi.

– Dạ, chuyện thường thì lò không nứt.

Cô thò tay vào miệng lò, cạo nhẹ móng tay lên lớp cặn bám ở thành trong rồi đưa ra ánh sáng. Lớp cặn dày chừng sợi tóc, nhiều tầng như vỏ cây. Tầng dưới màu nâu đất, tầng giữa màu lá úa, tầng trên cùng đen bóng như hắc ín và rỗ li ti.

– Cặn lò đóng từng lớp theo từng nén hương. – Cô nói, giọng chậm lại, như mẹ cô vẫn chậm lại khi giảng cho người mua thuốc. – Bốn lớp đầu mỏng đều, nghĩa là bốn nén hương đầu lửa giữ vừa. Lớp trên cùng dày gấp ba, lại rỗ. Rỗ là thuốc sôi trào, bọt vỡ ra để lại lỗ. Lửa bị đẩy lên rất mạnh, trong một lúc rất ngắn. Vào lúc gần sáng.

Không ai nói gì. Ai trong sảnh cũng biết đêm qua người đứng lò số chín là Lã Tử Mặc.

Nghi không nhìn Mặc. Cô gói lớp cặn vào một mảnh giấy dó, để lên mặt phản.

– Con không dám nói ai đẩy lửa. – Cô nói. – Con chỉ dám nói lò này không mỏng. Ba năm con cọ nó bằng cát sông, nhưng cát con sàng qua ba lần, hạt nhỏ như hạt tấm. Mẹ con dặn: nồi đồng mà cọ bằng cát to là xước, xước thì lần sau cháy đáy.

Đứng ở góc sảnh, Đàm Thị Bông, đứa tẩy lò cùng phòng với Nghi, che miệng. Nghi đoán nó đang nín cười vì cái câu nồi đồng.

Quách Bảo đỏ mặt, toan nói nữa thì Lã Đình Khiêm giơ tay.

– Đủ rồi. – Ông nói. Giọng ông trầm và đều, nghe như nước chảy dưới cầu. – Lò số chín đúc lại. Việc này không ghi vào sổ phạt của ai.

Nghi cúi đầu tạ. Cô định đứng dậy thì ông hỏi tiếp, một câu không dính gì tới cái lò:

– Mẹ cô làm nghề gì?

– Dạ, bán thuốc nam ở chợ Cầu Tre.

– Thuốc nam. – Ông lặp lại, rất khẽ.

Nghi không hiểu vì sao hai chữ ấy qua miệng ông lại nghe như một vật gì đó vừa rơi xuống nước.

– Từ mai cô không rửa lò trên sảnh nữa. – Ông nói. – Xuống hầm. Cạo cặn lò phế. Cho tới khi ta nói khác.

Rồi ông đứng dậy, đi vào nhà trong. Quách Bảo đi theo. Mặc đứng lại thêm một lúc, nhìn gói giấy dó trên phản, rồi cũng đi, không nói với cô một lời.

Ra tới hiên, Bông túm tay áo Nghi, kéo vào gầm cầu thang gỗ.

– Mày điên à? – Nó thì thào. Bông người làng chài cửa Cồn Gáo, giọng có vị mặn, câu nào cũng kéo dài đuôi. – Nói thẳng mặt cháu đường chủ như thế, mày tưởng mày là ai?

– Tao có nói tên ai đâu.

– Không nói tên mà ai cũng hiểu thì còn tệ hơn nói tên. Giờ thì xuống hầm. Mày biết hầm đó chưa? Ba năm nay tao chưa thấy ai xuống đó mà lên lại còn nguyên tóc đen.

– Thì tao lên với tóc bạc. – Nghi nói. – Đỡ tốn tiền nhuộm.

Bông bật cười, rồi lại cau mày, đẩy vào tay Nghi một cái bánh gai gói lá chuối còn ấm.

– Ăn đi. Sáng nay mày quỳ từ giờ Mão.

Nghi cắn một miếng bánh. Nhân đậu xanh ngọt lịm, mùi lá gai thơm. Cô nhìn qua lan can xuống sườn núi. Vọng Dược Tông dựng trên chín bậc ruộng thuốc, bậc nào cũng xanh một màu khác: bạch truật xanh nhạt, đương quy xanh thẫm, ngưu tất lốm đốm tím. Mây buổi sáng nằm dưới bậc thứ ba. Phía dưới mây, xa lắm, là con sông Lạc Thủy như sợi chỉ bạc, và trên bờ sông có một cái chợ nhỏ, một cây gạo, một sạp thuốc.

Ba năm trước, khi cô báo tin đá thử linh căn sáng lên dưới tay mình, mẹ cô đang ngồi thái lá ngải trên cái thớt gỗ mít. Mẹ không hỏi linh căn gì, mấy phẩm. Mẹ chỉ ngừng dao, cắn môi dưới như mỗi khi nghĩ việc khó, rồi nói:

– Lên núi thì lên. Đừng vào Đan Đường.

– Sao vậy mẹ?

– Đan Đường không nhận con gái.

– Thì con rửa lò. Rửa lò cũng là ở gần lò.

Mẹ cô không cãi. Đêm trước ngày cô đi, mẹ nhét vào tay nải của cô một nắm cỏ mực phơi khô, buộc bằng một mảnh vải nâu, mép vải có một hàng mũi khâu chữ thập bằng chỉ xanh. Đó là mũi khâu mẹ khâu lên miệng mọi túi thuốc bán ở chợ Cầu Tre, để khách quen nhìn là biết thuốc nhà bà Tư.

– Đi đường xa chảy máu cam thì nhai cái này. – Mẹ dặn. – Nấu gì sợ cháy thì bỏ vào một nhúm.

Ba năm, Nghi chưa chảy máu cam lần nào. Nắm cỏ mực vẫn nằm trong đáy rương, mảnh vải nâu vẫn buộc nguyên.

Chiều hôm đó, cô dọn đồ xuống hầm.

Đan Đường dựng trên một khối đá lớn ở bậc thứ năm. Gian trên là sảnh luyện đan với mười hai cái lò, gian dưới là hầm, đào sâu vào lòng núi. Muốn xuống phải đi bảy mươi hai bậc đá, càng xuống càng nóng. Tới bậc thứ năm mươi thì mồ hôi chảy ròng ròng sau gáy. Tới bậc cuối thì không khí đặc như hơi nồi xôi.

Dưới hầm tối, chỉ có ánh đỏ hắt lên từ nền đá. Nghi đứng ở chân cầu thang, nheo mắt một lúc mới thấy rõ. Nền hầm có những đường kẻ đỏ rực, to cỡ ngón tay cái, chạy ngang chạy dọc như mạch máu trên mu bàn tay người già. Đó là địa hỏa mạch trận. Lửa của mười hai cái lò trên sảnh không đốt bằng than, mà dẫn từ mạch lửa trong lòng núi lên, qua trận này. Đan sư đứng lò chỉ việc bấm ấn, mở to hay khép nhỏ đường lửa.

Dọc vách hầm là những cái lò phế, xếp hàng như những ông già ngồi chờ đò. Có cái sứt quai, có cái lủng đáy, có cái méo miệng. Cái nào cũng còn nguyên lớp cặn bên trong.

Nghi đặt tay nải xuống, bước thêm hai bước, thì một giọng đàn ông vang lên từ chỗ tối:

– Đứng yên.

Cô đứng yên.

– Chân trái cô đang cách đường lửa số bảy chưa tới nửa tấc. – Giọng ấy nói tiếp, khô như củi. – Dẫm lên thì cô mất bàn chân, còn tôi mất ba ngày vẽ lại trận.

Một người đàn ông trẻ bước ra từ sau dãy lò phế. Anh mặc áo xám của Trận Đường, tay áo xắn tới khuỷu, cầm một bó cờ trận nhỏ bằng tre. Mặt anh lấm tấm bồ hóng, tóc buộc bằng một sợi dây gai.

– Cô là người bị đày xuống đây?

– Dạ. – Nghi nói. – Còn anh là người đày sẵn ở đây?

Anh nhìn cô, khóe miệng nhích lên một chút rồi thôi.

– Cảnh Vân Tề. Trận Đường. Tôi giữ cái trận này.

– Viên An Nghi. Tẩy lò.

– Tẩy lò thì cạo. – Anh chỉ một khoảng nền đá không có vạch đỏ, sát vách bên trái. – Chỉ ngồi chỗ này. Đi thì đi theo mấy viên gạch xám. Có gì không chắc thì hỏi. Đừng đoán.

Nói xong anh quay về chỗ tối, tiếp tục cắm cờ. Nghi nghe tiếng que tre gõ lóc cóc lên đá, đều như tiếng mõ.

Cô ngồi xuống chỗ được chỉ, kéo cái lò phế đầu tiên lại gần. Trên quai lò có buộc một miếng thẻ gỗ ghi mấy chữ đã mờ: Thanh Mạch, mẻ thứ hai trăm mười, năm Nhâm Tý. Cô cạo một đường bên trong. Cặn nhiều lớp, như cái lò số chín. Lớp dưới nâu đất. Lớp giữa xanh lá úa. Và ở khoảng gần giữa thân lò, có một vòng đen mỏng chạy quanh, đen như ai lấy than kẻ một đường.

Cô kéo cái lò thứ hai. Thẻ gỗ ghi: Thanh Mạch, mẻ thứ ba trăm bốn mươi. Vòng đen nằm đúng chỗ ấy.

Cái thứ ba. Cái thứ tư. Tới cái thứ bảy, tay cô đã đen tới cổ tay. Cái lò nào luyện Thanh Mạch Đan cũng có một vòng đen chạy quanh thân, cao ngang nhau, như vết nước lụt in trên cột nhà.

Nghi ngồi im, nhìn bảy cái vòng đen.

Ở Vọng Dược Tông, ai cũng biết Thanh Mạch Đan là niềm tự hào của Đan Đường. Hai mươi lăm năm trước, chính Lã Đình Khiêm luyện ra nó, cứu cả vùng mỏ Khe Sim khỏi bệnh bùn mạch. Từ đó Đan Đường mới có chỗ đứng như hôm nay. Mỗi đệ tử muốn bước từ cảnh Khơi Nguồn lên cảnh Đắp Bờ đều phải uống nó, để rửa sạch thứ bùn khí thô lắng trong kinh mạch suốt mấy năm hít thở. Bông kẹt ở Khơi Nguồn tầng chín đã hai năm, uống ba viên Thanh Mạch mà bùn vẫn chưa tan hết. Bông bảo tại mình ngu. Nghi thì từ lâu đã ngờ không phải tại Bông.

Và giờ thì có bảy cái lò ở đây, cái nào cũng mang cùng một vết cháy.

Cô cầm cục cặn đen lên mũi ngửi. Mùi khét quen lắm. Mùi này cô ngửi từ bé, ở cái bếp ba ông táo sau sạp thuốc nhà mình, những đêm mẹ nấu cao ích mẫu bán Tết. Nồi cao sôi tới lúc nước sánh lại thì bắt đầu đổi mùi, từ mùi lá sang mùi đường cháy. Mẹ gọi lúc ấy là lúc trở mùi. Lúc ấy mẹ không bớt lửa. Mẹ thò tay vào cái giỏ cạnh bếp, bốc một nhúm gì đó thả vào nồi.

Nghi nhắm mắt, cố nhìn cho ra bàn tay trái của mẹ trong trí nhớ, nhìn cái giỏ, nhìn thứ trong giỏ.

Ở chỗ tối, tiếng que tre ngừng gõ.

– Cô ngồi im lâu quá. – Cảnh Vân Tề nói. – Ngất à?

– Không. – Nghi mở mắt. – Anh Tề, cái trận này có ghi lại lửa từng lò không? Lửa lên lúc nào, xuống lúc nào?

Anh im một lúc.

– Có. Sao?

– Tôi muốn xem lửa của mẻ Thanh Mạch nào cũng được. Lúc nén hương thứ ba.

Lần này anh im lâu hơn. Rồi anh bước ra khỏi chỗ tối, đi trên những viên gạch xám tới chỗ cô, ngồi xổm xuống, nhìn bảy cái lò phế với bảy vòng đen.

– Tôi giữ trận này bốn năm. – Anh nói. – Chưa ai hỏi tôi câu đó.

Trên đầu họ, qua bảy mươi hai bậc đá, có tiếng chân người đi xuống. Bước chân chậm, nặng, dừng lại ở bậc thứ năm mươi như để thở, rồi đi tiếp.

— Hết chương 1 —

Mục lục Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

  1. 1Lò số chín nứt lúc canh tư9 phút
  2. 2Cuộn giấy sém dưới hầm10 phút đọc
  3. 3Nửa nắm cỏ mực10 phút đọc
  4. 4Ba chữ của Lệnh Cấm Lò10 phút đọc
  5. 5Mũi khâu ở cổ bình mẫu10 phút đọc
  6. 6Đêm bóc lạc ở chợ Cầu Tre10 phút đọc
  7. 7Ngọn đèn lồng giấy dầu9 phút đọc
  8. 8Luật của người phụ lò11 phút đọc
  9. 9Tiếng rít bên kia đài10 phút đọc
  10. 10Một bó cỏ mực, một đồng10 phút đọc

Về truyện này

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →