Chương 6: Đêm bóc lạc ở chợ Cầu Tre
Chợ Cầu Tre họp từ lúc trời còn tối. Chuyến đò sớm cập bến khi sương trên sông Lạc Thủy còn trắng đục như nước cơm, và Nghi nghe thấy chợ trước khi nhìn thấy chợ.
– Bánh đúc nóng đây! Bánh đúc lạc mới ra lò đây!
– Mắm tép Cồn Gáo, chua mà không mặn, ăn với cà pháo đây bà con ơi!
– Ai rau má, rau má hái sáng, năm hào một mớ!
Cô bước lên cây cầu tre bắc qua con lạch dẫn vào chợ. Cầu lắt lẻo, nhún nhún dưới chân, tay vịn bóng lên vì ba mươi năm tay người ta vịn. Hồi bé cô chạy qua cầu này mỗi sáng, mẹ gánh thuốc đi trước, cô ôm cái nong tre đi sau. Ba năm không về, cầu vẫn nhún đúng chỗ ấy, ở cái nhịp thứ bảy, nơi có một thanh tre bị nứt mà chẳng ai thay.
Cây gạo đầu chợ đang mùa trổ hoa. Hoa đỏ rực trên cành trơ lá, rụng lả tả xuống mái lá của sạp thuốc bên dưới. Dưới mái ấy, một người đàn bà ngồi xếp bằng trên cái chõng tre, đang thái củ gì đó trên thớt gỗ mít, con dao cầm tay trái.
Nghi đứng lại ở gốc gạo. Cô nhìn mẹ một lúc lâu.
Mẹ già đi. Tóc bạc hai bên thái dương nhiều hơn hồi cô đi. Lưng mẹ hơi gù xuống khi cúi. Nhưng tay mẹ vẫn đều. Nhát dao lên xuống như con thoi, từng lát củ mỏng tang rơi xuống cái mẹt bên cạnh. Mẹ đang đếm, môi mấp máy. Mười tám. Mười chín. Hai mươi. Mẹ ngẩng lên.
Mẹ nhìn thấy cô. Con dao dừng giữa không trung.
– Về rồi à. – Mẹ nói.
Không hỏi sao về, về mấy ngày, trên núi có chuyện gì. Chỉ ba chữ ấy, như cô vừa đi chợ xa về muộn một chút. Rồi mẹ đặt dao xuống, phủi tay vào vạt áo, rót cho cô một bát nước vối từ cái ấm đất để trong giỏ ủ.
– Uống đi. Đường sông lạnh.
Cô ngồi xuống mép chõng, uống nước vối. Nước chát, ấm, thơm mùi lá. Mẹ lại cầm dao, thái tiếp.
– Tuần trước, – mẹ nói, không ngẩng lên, – có ông béo ở trên núi xuống. Đeo túi gấm, đi giày vải tốt, đứng trước sạp hỏi mua cả bó cỏ mực. Mua xong không đi. Đứng nhìn mẹ thái thuốc lâu lắm. Rồi hỏi: bà thái tay trái từ nhỏ hay sau này mới tập.
– Mẹ trả lời sao?
– Mẹ bảo: từ trong bụng mẹ. – Mẹ nói. Một nhát dao. – Rồi mẹ biết thế nào con cũng về.
Chợ tan lúc gần trưa. Mẹ dọn sạp, Nghi gánh hai thúng thuốc theo mẹ về căn nhà lá sau chợ, nhà có ba gian, bếp ba ông táo đằng sau, giàn mướp đằng trước, cái giỏ đựng đồ lặt vặt vẫn treo trên cái đinh bên trái bếp như ba năm trước. Mẹ nấu cơm. Canh rau đay nấu cua đồng, cà pháo muối, đĩa cá rô kho tộ. Hai mẹ con ăn mà không ai nói gì về núi Vọng Dược.
Tối, khi cái đèn dầu đã thắp, mẹ ngồi bên trái bếp, bóc lạc để mai rang. Nghi ngồi đối diện. Cô lấy trong tay nải ra mảnh vải nâu khâu chữ thập, đặt lên cái mẹt lạc.
– Mẫu Dược Các trên núi có một cái bình. – Cô nói. – Thanh Mạch Đan, mẻ đầu, năm Canh Thân. Cổ bình quấn một dải vải y như thế này. Dòng tên người chế bị ai đó cạo đi.
Mẹ không ngừng tay. Tiếng vỏ lạc bóc lách tách.
– Bà Thoa ở bếp Đan Đường kể với con chuyện một người tên Mai Hồi Lan. – Nghi nói tiếp. – Thuận tay trái. Thái thuốc đếm nhát. Rửa tay ba lần bằng nước bồ kết. Đêm nào cũng thả cỏ mực vào cháo khuya.
Mẹ dừng tay. Bà cắn môi dưới, như mỗi lần nghĩ một việc khó. Cắn lâu tới mức Nghi tưởng môi mẹ sẽ bật máu.
– Bà Thoa còn sống à. – Mẹ nói, rất nhỏ. – Còn nhai trầu không?
– Còn.
– Ừ. – Mẹ nói. Rồi bà buông nắm lạc xuống mẹt, lau tay vào vạt áo, ngước lên nhìn ngọn đèn dầu. – Con hỏi đi.
– Có phải mẹ làm nổ lò không?
Mẹ im một lúc.
– Không. – Bà nói. – Nhưng mẹ ngủ.
Rồi mẹ kể. Giọng mẹ không lên không xuống, như kể chuyện người khác, như cách mẹ vẫn giảng cho người mua thuốc: củ này sắc với ba bát nước, còn một bát thì uống.
Năm ấy dưới mỏ Khe Sim, đêm nào cũng có người chết. Mẹ ở dưới đó một tháng, ngủ trong lán với thợ mỏ, ăn cơm độn sắn với họ, nhìn họ ho ra bột đá. Mẹ về núi với cái phương trong đầu, và với một nỗi sợ: luyện chậm một ngày thì chết thêm một người. Ba sư huynh muội luyện liền mười một ngày. Đêm thứ mười hai, mẹ ba ngày không chợp mắt.
– Lò cuối đêm ấy là lò của mẹ. – Mẹ nói. – Nén hương thứ ba, mẹ thả nửa nắm cỏ mực. Mẹ dặn thằng Tuấn: lửa giữ văn, đừng đẩy. Hết nén thứ năm thì khép lửa, rắc nốt nửa nắm còn lại, đậy nắp. Nó gật. Mẹ ngồi xuống cạnh lò, định nhắm mắt một chút. Một chút thôi.
– Rồi mẹ ngủ.
– Rồi mẹ ngủ. – Mẹ nói. – Lúc ấy có người dưới mỏ chạy lên báo, đêm đó chết thêm ba người. Thằng Tuấn sốt ruột. Nó muốn mẻ ấy xong sớm, kịp luyện thêm một mẻ nữa trước khi trời sáng. Nó bấm ấn, đẩy lửa ở nén thứ tư. Nó không biết nửa nắm cỏ mực ấy giữ được dầu ngân hoa với lửa văn, chứ không giữ được với lửa vũ. Dầu bốc. Lò nổ. – Mẹ ngừng lại. – Lúc mẹ mở mắt ra thì mẹ đang nằm dưới một tấm ván, tai ù đặc, miệng đầy bụi gạch.
Nghi thấy tay mình lạnh ngắt.
– Đêm hôm sau anh Khiêm tới. – Mẹ nói tiếp. – Anh ấy quỳ trước mặt mẹ. Lần đầu tiên mẹ thấy anh ấy quỳ trước ai. Anh ấy bảo: vợ thằng Tuấn đang ôm thằng bé mới đầy năm. Nếu cả tông môn biết thằng Tuấn đẩy lửa tới nổ lò, thì thằng bé lớn lên sẽ mang cái tên con kẻ phá lò. Nhà họ Lã sẽ bị đuổi khỏi Đan Đường. Mà cái phương cứu thợ mỏ cũng mang tiếng là phương làm chết người. Anh ấy bảo: sư muội, em ngủ gục bên lò, em cũng có lỗi.
– Mẹ nhận.
– Mẹ nhận. – Mẹ nói. – Vì anh ấy nói đúng. Mẹ ngủ. Người đứng canh lò mà ngủ thì lò nổ là lỗi của mình.
– Nhưng anh Tuấn đẩy lửa!
– Đẩy lửa vì sốt ruột cứu người. – Mẹ nói. – Con nghĩ xem, nếu là con, đêm ấy con có đẩy không?
Nghi không trả lời được.
– Mẹ đi. – Mẹ nói. – Trước khi đi, mẹ kể hết với anh Khiêm cái phương. Nửa nắm lúc nén thứ ba, nửa nắm lúc khép lửa. Anh ấy nghe. Anh ấy gật. Mấy năm sau, mẹ nghe người ta nói Thanh Mạch Đan trên núi chỉ được bốn vòng. Mẹ hiểu là anh ấy bỏ cỏ mực.
– Sao lại bỏ?
Mẹ nhìn ngọn đèn, ngón tay miết miết vào vỏ lạc.
– Mẹ không biết. – Mẹ nói. – Có lẽ anh ấy không chịu nổi cái mùi. Có lẽ anh ấy nghĩ cỏ chợ không đáng vào lò. Có lẽ cả hai. – Mẹ cười, một cái cười rất nhạt. – Hồi còn ở Đan Đường, mỗi lần mẹ thả cỏ mực vào cháo khuya, anh ấy đều nhăn mặt, bảo: sư muội, cỏ ngoài chợ thì để ngoài chợ.
– Mẹ có giận không?
– Hai mươi lăm năm rồi. – Mẹ nói. – Mẹ lấy cha con. Mẹ có con. Mẹ có cái sạp dưới gốc gạo. Thợ mỏ Khe Sim năm ấy uống những mẻ đầu của mẹ, khỏi gần hết. Bốn vòng hay năm vòng thì cũng là chuyện trên núi. – Mẹ nhặt lại nắm lạc. – Mẹ chỉ không ngờ là cái đêm ấy lại sinh ra một tấm bảng cấm đàn bà con gái. Mẹ mà biết thì mẹ đã…
Mẹ không nói hết câu. Tiếng vỏ lạc lại bóc lách tách.
– Con định làm gì? – Mẹ hỏi.
– Bốn mươi ngày nữa là Đan Hội, giờ còn ba mươi ngày. Tông mình với Huyền Lô Các thi Thanh Mạch Đan, giành Cốc Hồi Xuân. Anh Mặc thi. Anh ấy luyện theo phương của bác thì bốn vòng. Huyền Lô Các mười hai năm qua đã học được nhiều thứ.
– Mặc. – Mẹ nói cái tên ấy lần đầu tiên, chậm rãi, như nếm một vị thuốc. – Thằng bé ấy giống cha nó không?
Nghi nghĩ một lúc.
– Mắt anh ấy lúc nào cũng như nước sắp sôi.
Mẹ cười. Lần này cười thật, mà mắt thì ướt.
– Giống. – Mẹ nói. – Giống y.
Hai mẹ con ngồi im một lúc lâu. Ngoài giàn mướp, dế kêu ri ri. Xa xa trên sông có tiếng gõ mạn thuyền đuổi cá.
– Phương là của mẹ. – Mẹ nói. – Mẹ cho con. Con muốn dạy thằng Mặc thì dạy. Muốn thắng Huyền Lô Các thì thắng. Nhưng con hứa với mẹ một điều.
– Mẹ nói đi.
– Đừng lôi cái đêm ấy ra. – Mẹ nói. – Thằng bé không có lỗi gì. Hai mươi lăm năm nó lớn lên với cái tên con của người chết vì lò nổ. Đừng để nó mang thêm cái tên con của người làm nổ lò. Chuyện ấy mẹ đã nhận, thì để mẹ nhận cho trọn.
Nghi nhìn mẹ. Cô muốn cãi. Cô muốn nói về tấm bảng Lệnh Cấm Lò, về ba năm rửa lò, về dòng tên bị cạo trên thẻ tre ở cổ bình. Nhưng cô nhìn bàn tay trái của mẹ đang bóc lạc, những ngón tay chai sần vì ba mươi năm cầm dao, và cô gật đầu.
– Con hứa.
Sáng hôm sau, trước khi cô xuống đò, mẹ đưa cho cô một bó cỏ mực mới. Cỏ phơi được nửa tháng, còn xanh màu lá, buộc bằng mảnh vải nâu mới, mép khâu chữ thập chỉ xanh, mũi cuối thắt ngược.
– Cỏ hái sau mưa thì nhiều mực hơn. – Mẹ dặn. – Thấy lá đen hơn thì bớt đi một nhúm.
Đò rời bến. Mẹ đứng dưới gốc gạo nhìn theo, hoa gạo đỏ rụng trên vai áo. Nghi nhìn lại cho tới khi cái chấm áo nâu ấy lẫn vào màu đỏ của cây.
Cô về tới núi lúc chạng vạng ngày thứ ba. Đi xuống bảy mươi hai bậc đá, cô đã ngửi thấy một mùi lạ. Mùi đất sét vỡ. Mùi tro nguội.
Cái lò phế cuối dãy, cái lò cô đã trát đáy bằng đất sét trộn tóc rối, cái lò đã cho ra năm viên đan năm vòng tơ, nằm vỡ làm ba mảnh trên nền đá. Cục đất trát đáy bị đập bẹp. Cái bát đất cô dùng để thử đan vỡ vụn bên cạnh.
Tề đứng cạnh đó, tay cầm que tre, mặt tối sầm.
– Tối qua tôi lên Trận Đường nộp cuộn giấy. – Anh nói. – Về thì thấy thế này.
Ở góc hầm, chỗ không có đường lửa, Bông ngồi bó gối, mặt úp vào hai đầu gối. Vai nó run lên từng chập.
Nghi đi lại gần. Bông ngẩng lên. Mắt nó sưng húp, mũi đỏ.
– Tao xin lỗi. – Nó nói, giọng lạc hẳn đi. – Tao xin lỗi mày. Tao nói với lão Quách rồi. Tao nói hết rồi. Cỏ mực. Nửa nắm. Nén hương thứ ba.
— Hết chương 6 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe