AI Truyện
Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Cuộn giấy sém dưới hầm

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba · Chương 2/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Cuộn giấy sém dưới hầm

Người đi xuống là Lã Tử Mặc.

Anh dừng ở bậc cuối, một tay vịn vách, thở hắt ra như vừa leo núi. Đan sư cảnh Đắp Bờ mà xuống bảy mươi hai bậc đá cũng phải thở, vì hầm này nóng theo kiểu riêng: không phải nóng da, mà nóng tận trong phổi.

Cảnh Vân Tề đứng dậy, chắp tay chào cho đúng phép, rồi lùi về chỗ tối, như thể chuyện của hai người không liên quan gì tới anh. Nhưng tiếng que tre gõ đá thì không vang lên nữa.

Mặc không nhìn Nghi ngay. Anh nhìn dãy lò phế, nhìn những đường lửa đỏ dưới nền, nhìn bảy cái lò cô vừa cạo, rồi mới rút trong tay áo ra một cái khăn tay trắng, mở ra. Trong khăn là một miếng cặn lò to bằng đồng xu.

– Cô đọc được cái lò số chín. – Anh nói. – Đọc cái này cho tôi.

Nghi không đưa tay ra lấy.

– Sáng nay anh không nói với tôi một câu nào.

– Sáng nay cô nói đủ cho cả hai. – Mặc đáp. – Cô muốn tôi nói gì? Cảm ơn vì đã cho cả Đan Đường biết tôi đẩy lửa?

– Tôi không nói anh đẩy lửa.

– Cô không cần nói.

Hai người nhìn nhau. Mặc cao hơn cô một cái đầu, mặt giống người chú bên nội tới bảy phần, chỉ có đôi mắt là khác: mắt đường chủ lúc nào cũng như mặt hồ phẳng, mắt Mặc thì như nước sắp sôi.

Nghi đưa tay lấy cái khăn.

Miếng cặn này mỏng hơn của lò số chín, các lớp đều đặn hơn, không có lớp rỗ. Người đứng lò lần này giữ lửa cẩn thận, Nghi đoán chắc là vì vừa bị một cái lò nứt dọa cho sợ. Nhưng ở khoảng giữa miếng cặn, chỗ ứng với nén hương thứ ba, vẫn có một vạch đen mảnh, đen bóng, đen y như bảy cái vòng trên bảy cái lò phế.

– Anh luyện mẻ này lúc nào?

– Đêm qua, sau khi lò số chín nứt. Lò số bốn. Tôi luyện lại cho đủ số.

– Viên đan ra sao?

Mặc ngập ngừng một chút.

– Hạng hai. Thả vào bát nước, tơ xanh ra được ba vòng thì đứt. Nước hơi đục.

– Mẻ tốt nhất của Đan Đường thì tơ ra mấy vòng?

– Bốn. – Anh nói, rồi chữa lại. – Bốn, hơi dư.

Nghi gật đầu. Ba năm rửa lò, cô thấy người ta thử đan nhiều lần. Viên Thanh Mạch thả vào bát nước giếng Ngân, nó nhả ra những sợi tơ xanh mảnh như tơ nhện, xoắn quanh lòng bát. Tơ càng dài, vòng càng nhiều, nước càng trong thì viên đan càng rửa sạch bùn trong mạch. Hạng nhất là bốn vòng. Cả Vọng Dược Tông đã quen coi bốn vòng là trần nhà.

– Anh xem cái này. – Cô kéo cái lò phế gần nhất lại, chỉ vào vòng đen trong lòng nó. – Mẻ hai trăm mười, năm Nhâm Tý. Mười tám năm trước. Anh xem cái này nữa. Mẻ ba trăm bốn mươi. Cả cái này, cái này, cái này. – Cô chỉ một lượt bảy cái lò. – Vòng đen nằm đúng một chỗ. Đúng nén hương thứ ba. Ai đứng lò, năm nào, lò nào, cũng thế.

Mặc cúi xuống nhìn. Anh nhìn rất lâu, lâu tới mức mồ hôi trên trán anh nhỏ xuống nền đá, xèo một tiếng nhỏ.

– Lò nào cũng thế thì là chuyện bình thường của phương thuốc. – Anh nói, nhưng giọng không chắc lắm.

– Chuyện bình thường của phương thuốc thì là chuyện của phương thuốc. – Nghi đáp. – Không phải chuyện của anh. Đó là điều tôi muốn nói sáng nay mà không có cơ hội nói.

Mặc đứng thẳng lên. Anh nhìn cô bằng một ánh nhìn mà cô không đọc ra được, như người vừa được trả lại một món đồ mình đánh rơi mà không biết là mình đã đánh rơi.

– Phương Thanh Mạch là của bác tôi. – Anh nói. – Hai mươi lăm năm nay không ai sửa được một chữ.

– Tôi không định sửa chữ nào. Tôi chỉ hỏi, cái gì cháy?

– Lửa.

Ở chỗ tối, Cảnh Vân Tề lên tiếng:

– Không phải lửa.

Mặc quay ngoắt lại. Tề bước ra, tay cầm một cuộn giấy dài. Không phải giấy dó thường, mà loại giấy xám có vân đỏ, cuộn quanh một cái trục tre to bằng cổ tay.

– Mỗi đường lửa trong trận đều đi qua một ống ghi. – Tề nói, giọng đều đều như đọc kinh, nhưng Nghi để ý anh nói với cả hai người, không riêng ai. – Giấy hỏa văn trong ống cuộn chậm theo nhịp nước nhỏ giọt, lửa nóng tới đâu thì sém giấy tới đó. Lửa to, vết sém đậm và rộng. Lửa nhỏ, vết sém nhạt và hẹp. Đây là cuộn của lò số bốn, đêm qua.

Anh trải cuộn giấy dài trên một cái lò phế úp ngược. Trên nền giấy xám có một dải sém nâu chạy dọc, lúc rộng lúc hẹp như một con sông vẽ trên bản đồ. Anh lấy que tre chỉ vào năm vạch mực nhỏ đánh dấu năm nén hương.

– Nén một, lửa vừa. Nén hai, lửa lên một chút, đúng phương. Nén ba… – Que tre trượt dọc dải sém. – Đều. Đều như cái thước. Không lên không xuống. Lửa không đẩy, cũng không tụt.

– Vậy thì vòng đen… – Mặc nói, rồi bỏ lửng.

– Lửa không đổi mà trong lò có cái cháy. – Nghi nói nốt. – Thì cái cháy là thuốc. Tới nén hương thứ ba, có một vị thuốc trong lò tự nó cháy.

Mặc nhìn cuộn giấy, nhìn cô, rồi nhìn Tề.

– Anh giữ những cuộn này bao lâu rồi?

– Bốn năm. – Tề nói. – Trận Đường bắt giữ. Đan Đường chưa hỏi lần nào.

Câu ấy nói rất bình thường, không có chút gai nào, nhưng Mặc vẫn đỏ mặt.

Anh gấp khăn tay lại, bỏ vào tay áo, để lại miếng cặn trên mặt lò phế.

– Bốn mươi ngày nữa là Đan Hội. – Anh nói, mắt nhìn xuống nền. – Sáng nay tông chủ vừa nhận thư của Huyền Lô Các. Mười hai năm mới tới lượt một lần. Đan Hội năm nay thi Thanh Mạch Đan. Bên nào thắng thì giữ Cốc Hồi Xuân thêm mười hai năm.

Nghi biết Cốc Hồi Xuân. Ai ở Vọng Dược Tông cũng biết. Đó là thung lũng thuốc nằm giữa hai ngọn núi của hai tông môn, đất đỏ, sương sớm, mọc được những vị thuốc trên chín bậc ruộng của Vọng Dược Tông không trồng nổi. Mười hai năm trước Vọng Dược Tông thắng, giữ được cốc. Một nửa số đan của Đan Đường làm từ thuốc hái trong cốc ấy.

– Ai thi? – Cô hỏi.

– Tôi. – Mặc nói. – Bác tôi đã chọn.

– Huyền Lô Các luyện Thanh Mạch được mấy vòng tơ?

– Không ai biết. Mười hai năm trước họ thua vì ba vòng rưỡi. Mười hai năm đủ cho người ta học được nhiều thứ.

Anh quay đi, bước lên bậc đá đầu tiên, rồi dừng lại, không ngoái đầu.

– Nếu cô biết vị thuốc nào cháy, – anh nói, – thì cô nói với tôi trước khi nói với ai khác.

Rồi anh đi lên. Tiếng chân lần này nhanh hơn lúc xuống.

Hầm im một lúc. Chỉ có tiếng lửa trong mạch đá rì rì như tiếng ong.

– Anh không cần phải nói câu cuối ấy. – Nghi nói, không nhìn Tề. – Câu bốn năm Đan Đường chưa hỏi lần nào.

– Tôi nói thật. – Tề đáp.

– Thì vì nói thật nên mới không cần.

Tề cuộn tấm giấy hỏa văn lại, chậm rãi, từng vòng một, đều như lúc anh gõ cờ trận.

– Bốn năm trước, – anh nói, – tôi xuống đây với một cái giỏ đồ nghề và một lời dặn của trưởng lão Trận Đường: dưới đó không ai nói chuyện với mày đâu, đừng có chờ. Bốn năm, đúng như lời dặn. Người Đan Đường xuống lấy lò phế, khiêng đi, không ai hỏi tôi tên gì. Tôi cũng quen rồi.

Anh đặt cuộn giấy vào cái giỏ mây bên cạnh.

– Hôm nay có người hỏi lửa nén hương thứ ba. Tôi mừng quá, nói hơi nhiều.

Nghi bật cười. Cô không định cười, nhưng câu ấy nói bằng cái giọng khô như củi, mặt không đổi sắc, nên tiếng cười cứ tự bật ra.

– Mười câu mà anh bảo nhiều.

– Với tôi là nhiều.

Đêm ấy, Nghi ngủ trên một tấm chiếu cói trải sát vách hầm, chỗ không có đường lửa nào chạy qua. Nóng quá không ngủ được. Cô nằm nhìn những đường đỏ trên nền đá, và nghĩ về cái bếp ba ông táo sau sạp thuốc nhà mình.

Mẹ cô thuận tay trái. Ở chợ Cầu Tre, ai cũng biết bà Tư thái thuốc bằng tay trái, cầm dao ngược đời mà nhát nào cũng đều như nhát nào. Đêm nấu cao, mẹ ngồi bên trái bếp, tay trái cầm đũa cả, tay phải để trên đầu gối. Cái giỏ đựng các thứ lặt vặt để bên trái, sát tay. Tới lúc nồi cao trở mùi, tay trái mẹ thò vào giỏ.

Nghi nhắm mắt lại, cố nhìn vào lòng cái giỏ ấy trong trí nhớ.

Lá khô. Thân mảnh, có đốt. Lá thuôn, mép răng cưa. Lúc còn tươi thì vò nát chảy ra nước đen như mực. Ngoài chợ người ta gọi là cây nhọ nồi. Mẹ cô thì không bao giờ gọi thế. Mẹ gọi là cỏ mực.

Cô ngồi bật dậy.

Cái rương gỗ nhỏ của cô nằm ở đầu chiếu. Cô mở nắp, lục xuống đáy. Bàn tay chạm vào mảnh vải nâu, cái nút buộc cũ, hàng mũi khâu chữ thập chỉ xanh gồ lên dưới đầu ngón tay. Ba năm rồi, cô chưa mở nó.

Cô gỡ nút. Mùi cỏ khô xộc lên, mùi hăng hăng, hơi đắng, như mùi bờ ruộng sau cơn mưa. Mùi ấy lẫn với mùi khói bếp nhà mình, mùi ấy là mùi chợ Cầu Tre lúc năm giờ sáng.

– Nấu gì sợ cháy thì bỏ vào một nhúm.

Mẹ cô đã dặn thế. Nhưng mẹ không dặn nhúm ấy bỏ vào lúc nào, bỏ bao nhiêu. Mẹ cũng chưa bao giờ luyện đan.

Ở Vọng Dược Tông, chưa ai bỏ cỏ mực vào lò đan. Cỏ mực mọc đầy bờ ruộng, bờ ao, lớp tạp dịch nhổ đi mỗi sáng vì nó lan vào ruộng bạch truật. Đan sư gọi nó là cỏ chợ. Thứ gì người ta bán ở chợ phàm nhân với giá một đồng một bó thì không được bước vào Đan Đường. Đó không phải luật khắc trên bảng gỗ, nhưng ai cũng biết.

Nghi buộc nút vải lại, đặt bó cỏ mực lên trên rương. Cô nằm xuống, nhìn nó cho tới khi ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, Bông xuống hầm mang cho cô một bát cháo và một tin.

Nó đặt bát cháo lên một cái lò phế úp ngược, mồ hôi nhễ nhại, liếc chừng chỗ tối nơi có tiếng que tre gõ, rồi ghé sát tai Nghi.

– Sáng nay đường chủ cho gọi quản sự Quách vào nhà trong. Tao bưng trà nên nghe được một khúc.

– Khúc nào?

– Đường chủ bảo lão Quách xuống núi một chuyến. – Bông nói. – Xuống chợ Cầu Tre. Hỏi thăm một sạp thuốc dưới gốc gạo.

Nghi đang cầm thìa, thìa cháo dừng lại giữa không trung.

– Hỏi thăm cái gì?

– Tao không nghe hết. – Bông lắc đầu. – Chỉ nghe đường chủ hỏi một câu, giọng lạ lắm, như người hỏi đường về nhà cũ. Ổng hỏi: bà bán thuốc ấy có thuận tay trái không.

— Hết chương 2 —

Mục lục Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

  1. 1Lò số chín nứt lúc canh tư9 phút
  2. 2Cuộn giấy sém dưới hầm10 phút đọc
  3. 3Nửa nắm cỏ mực10 phút đọc
  4. 4Ba chữ của Lệnh Cấm Lò10 phút đọc
  5. 5Mũi khâu ở cổ bình mẫu10 phút đọc
  6. 6Đêm bóc lạc ở chợ Cầu Tre10 phút đọc
  7. 7Ngọn đèn lồng giấy dầu9 phút đọc
  8. 8Luật của người phụ lò11 phút đọc
  9. 9Tiếng rít bên kia đài10 phút đọc
  10. 10Một bó cỏ mực, một đồng10 phút đọc

Về truyện này

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →