Chương 8: Luật của người phụ lò
Cốc Hồi Xuân buổi sáng đỏ như lòng bàn tay. Đất đỏ, sương trắng, mặt trời lên chưa qua ngọn núi phía đông nên cả thung lũng chìm trong một thứ ánh sáng hồng nhạt như nước trà. Những luống thuốc chạy dài theo triền dốc, luống đỏ tía của sâm đất, luống xanh mướt của thanh tâm thảo, luống trắng đục của ngân hoa đang nở. Mùi thuốc lẫn mùi sương, hít một hơi là tỉnh cả người.
Giữa thung lũng có một cái đài đá tròn, gọi là đài Song Phong, dựng từ thời hai tông môn còn chung một tổ sư. Trên đài đặt hai cái lò đồng mới đúc, mỗi lò một bên, cách nhau mười bước. Bên cạnh mỗi lò là một cái bàn gỗ dài để phụ lò bày thuốc. Dưới đài, người của hai tông môn ngồi hai phía, ở giữa là chiếu của Đan Minh, những người phân xử.
Nghi đứng ở chân đài, ôm cái hòm thuốc. Cô mặc áo nâu của tẩy lò, áo duy nhất cô có. Mặc đứng cạnh, áo trắng đan đồng, tay chắp sau lưng, mắt nhìn thẳng. Hai người không nói với nhau câu nào từ lúc rời núi. Đêm hôm trước Mặc lên nhà bác, về hầm lúc gần sáng, mặt không còn một giọt máu, nhưng không kể gì. Nghi cũng không hỏi.
Tề đứng phía sau họ ba bước. Lò trên đài Song Phong không dùng địa hỏa trận, mà dùng lò trận mang theo, mỗi tông môn tự mang một bộ. Trưởng lão Trận Đường đã cử Tề đi giữ bộ trận của Vọng Dược Tông, vì, theo lời ông, thằng ấy bị phạt giữ lửa cho Đan Đường hai năm thì giữ luôn cho trọn.
Phía Huyền Lô Các, đan sư thi là một người đàn bà chừng ba mươi lăm, áo chàm, cổ áo thêu một cái lò bằng chỉ bạc, tóc vấn cao. Nghiêm Tố Hoa, đan sư trẻ nhất từng ngồi ghế đan chủ của Huyền Lô Các. Phụ lò của cô ta là một cậu thanh niên gầy, mặt non choẹt, ôm hòm thuốc run run.
Hội chủ Đan Minh năm nay là một bà cụ ngoài tám mươi, lưng thẳng như cây sào, tay chống gậy trúc. Người ta gọi bà là cụ Ngụy. Không ai biết tên thật của bà. Chỉ biết sáu mươi năm nay Đan Minh có tranh chấp gì thì gọi cụ Ngụy, và cụ Ngụy nói gì thì là thế.
Cụ Ngụy đọc danh sách. Đan sư Vọng Dược Tông: Lã Tử Mặc. Phụ lò: Viên An Nghi.
Dưới chiếu Vọng Dược Tông, một người đứng dậy. Lã Đình Khiêm.
– Thưa hội chủ, – ông nói, giọng trầm và đều, – Đan Đường Vọng Dược Tông không có nữ phụ lò. Đứa trẻ này là tẩy lò. Tên nó vào danh sách là do sơ suất.
– Không phải sơ suất. – Mặc nói, không quay lại. – Cháu tự tay ghi tên. Luật Đan Minh cho đan sư tự chọn phụ lò.
Cụ Ngụy nhìn bác cháu nhà họ Lã, rồi chậm rãi quay sang chiếu Vọng Dược Tông, chỗ trưởng lão Hà Bích Thu ngồi. Năm nay bà được tông chủ cử theo làm người giữ luật cho đoàn.
– Trưởng lão Hà, tông môn các vị có luật nào cấm không?
Hà Bích Thu đứng dậy. Bà không nhìn Lã Đình Khiêm.
– Vọng Dược Tông có Lệnh Cấm Lò. – Bà nói. – Lệnh cấm nữ đệ tử đứng lò ở Đan Đường. Phụ lò không đứng lò. Đây cũng không phải Đan Đường. Đây là Cốc Hồi Xuân. Không có luật nào cấm.
Phía chiếu Huyền Lô Các vang lên một tiếng cười. Nghiêm Tố Hoa cười, không to, nhưng đủ cho cả đài nghe.
– Huyền Lô Các ba đời đan chủ là đàn bà. – Cô ta nói, giọng như dao cạo. – Tôi cứ tưởng Vọng Dược Tông dắt con gái theo để xem cho biết.
Mặt Nghi nóng lên. Cô không nói gì. Cô đã quen với chuyện không nói gì.
Lã Đình Khiêm vẫn đứng.
– Vậy thì xin hội chủ đọc cho rõ luật phụ lò của Đan Minh. – Ông nói. – Để đứa trẻ này biết mình được làm gì, không được làm gì.
Cụ Ngụy gật đầu. Bà đọc, chậm, không cần nhìn giấy:
– Phụ lò bày thuốc, thái thuốc, cân thuốc trước khi nhóm lửa. Khi lửa đã nhóm, phụ lò không được chạm vào thuốc, không được chạm vào lò, không được nói với đan sư một lời nào. Phạm thì bên ấy thua.
Nghi nghe từng chữ rơi xuống như đá rơi xuống giếng.
Không được nói một lời nào. Mặc không có cái mũi của cô. Ba tuần luyện dưới hầm, lần nào cũng là cô gật đầu khi thuốc trở mùi. Lần nào cũng là cô đặt tay lên cổ tay anh ở nén thứ tư.
Lã Đình Khiêm ngồi xuống. Ông không nhìn cô. Nhưng Nghi hiểu, ông đã biết. Ông biết ai là người đứng cạnh lò dưới hầm suốt ba tuần.
Vòng thứ nhất là vòng thức dược.
Ba mươi miếng thuốc, mỗi miếng to bằng đầu đũa, bày trong ba mươi cái chén đất. Đan sư và phụ lò của mỗi bên bịt mắt, chỉ được ngửi và sờ, rồi nói tên. Cụ Ngụy bảo vòng này để xem người đứng lò có biết mình đang cầm gì trong tay không.
Nghi bịt mắt bằng dải lụa đen. Thế giới tối lại, chỉ còn mùi. Chén thứ nhất: đương quy, mùi ngọt ấm như mùi khoai nướng. Chén thứ hai: bạch truật, mùi hăng của đất mới cày. Chén thứ bảy: phục linh, gần như không mùi, nhưng sờ thấy xốp như bã đậu. Chén thứ mười hai: ngân hoa sao vàng. Chén thứ mười ba: ngân hoa sao vàng nữa. Cô ngửi lại lần nữa. Không. Chén thứ mười ba cánh hoa cháy sém một mép, có mùi khét thoảng ở đuôi.
– Ngân hoa sao già lửa. – Cô nói. – Cháy cạnh.
Cô nghe tiếng cụ Ngụy gõ gậy trúc xuống đài một cái. Đúng.
Ba mươi chén, Nghi nói đúng ba mươi. Mặc đúng hai mươi tám. Tố Hoa đúng hai mươi chín, sai đúng chén mười ba, gọi nó là ngân hoa sao vàng. Phụ lò của cô ta đúng hai mươi lăm.
Khi gỡ dải lụa ra, Nghi thấy Tố Hoa đang nhìn mình. Không còn cái giọng dao cạo nữa.
– Tẩy lò mà mũi thính thế. – Tố Hoa nói.
– Tẩy lò ngửi khét nhiều. – Nghi đáp.
Tố Hoa nhìn cô thêm một lúc, rồi hơi gật đầu, quay đi.
Vòng thứ hai là luyện Thanh Mạch Đan, vào sáng mai.
Chiều hôm ấy, khi Nghi đang ngồi sau lều thái lại số ngân hoa cho mai, Bông tìm tới. Nó được Đan Đường cho đi theo khiêng hòm, mặt đỏ gay vì nắng, mồ hôi nhễ nhại. Nó ngồi xổm xuống cạnh Nghi, ghé sát tai.
– Tao thấy lão Quách.
– Lão đi theo đoàn mà.
– Không phải ở đây. – Bông nói. – Hôm kia, ở chợ chân núi, trước khi lên cốc. Tao thấy lão ngồi quán nước ven đường với một người mặc áo chàm. Cổ áo thêu cái lò.
Con dao trong tay Nghi dừng lại.
– Lão đưa cho người ta một gói lá chuối, nhỏ bằng nắm tay. – Bông nói. – Người ta đưa lại lão một cái túi. Tao đứng sau gốc cây đa, thấy rõ. Cái túi nặng, lão cầm phải nghiêng vai. – Nó cắn môi. – Tao đi theo lão vì… vì tao muốn biết ba mươi lượng của lão từ đâu ra. Tao không ngờ.
Nghi nhìn nó. Cô hiểu cái gói lá chuối ấy là gì. Lão Quách biết nửa đầu. Nửa đầu đáng giá một cái túi nặng tới nghiêng vai, với người của Huyền Lô Các.
– Mày kể với ai chưa?
– Chưa.
– Đừng kể. – Nghi nói. – Chưa phải lúc.
– Mày không giận à?
– Giận để mai làm gì. – Nghi cầm con dao lên, thái tiếp. Lát ngân hoa mỏng như cánh ve. – Mai cứ xem.
Tối, Tề tới lều, ngồi ngoài cửa, không vào. Nghi kể cho anh luật phụ lò. Anh nghe xong thì im một lúc.
– Không được nói. – Anh nói. – Không được chạm. Còn nhìn thì sao?
– Nhìn thì được.
– Thì cho anh ta nhìn.
Hai người ngồi bàn tới khuya. Cuối cùng, cái cách họ nghĩ ra đơn giản tới mức Nghi thấy buồn cười. Trên bàn phụ lò, sau khi lửa nhóm, cô vẫn được để lại con dao thái. Dao nằm nghiêng, lưỡi quay vào trong, là chưa. Khi thuốc trở mùi, cô đặt dao nằm phẳng. Còn ở nén thứ tư, khi Mặc nóng ruột, cô sẽ để bàn tay trái nằm úp trên mặt bàn. Bàn tay úp là giữ.
– Mai cô nhớ đừng gãi đầu. – Tề nói. – Anh ta tưởng là hiệu.
Nghi bật cười. Tề đứng dậy, chúc ngủ ngon, đi về lều của Trận Đường.
Nghi chưa kịp tắt đèn thì cửa lều lại vén lên.
Lã Đình Khiêm đứng đó. Một mình, không có Quách Bảo. Áo choàng xám, tóc bạc trắng xõa xuống vai như vừa xõa ra định ngủ. Dưới ánh đèn dầu, mặt ông vẫn không một nếp nhăn, nhưng mắt thì già đi cả trăm năm.
Nghi đứng dậy, chắp tay.
– Ngồi đi. – Ông nói. Rồi chính ông ngồi xuống cái ghế đẩu ở cửa lều, như người đi đường mỏi chân ngồi nhờ.
Hai người im một lúc.
– Cô thái thuốc tay phải. – Ông nói. – Nhưng cô đếm nhát.
Nghi không nói gì.
– Mắt cô không giống. – Ông nói tiếp. – Cái cằm thì giống. Cái cách cô đứng trước Giới Luật Đường, chân trái hơi lùi ra sau, như người sắp chạy mà nhất quyết không chạy, cũng giống.
– Đường chủ sai người xuống chợ Cầu Tre. – Nghi nói.
– Phải. – Ông nói. Ông không chối. – Lão Quách về bảo bà ấy giờ bán thuốc nam, lấy chồng lái đò, chồng mất. Bảo bà ấy già rồi. Bảo bà ấy vẫn khâu cái mũi chữ thập lên túi thuốc.
Ông im một lúc lâu.
– Ta không xin cô điều gì cho ta. – Ông nói. – Ta xin cô cho thằng Mặc. Mai cô rút đi. Nói ốm. Nói gì cũng được. Để nó luyện phương cũ. Bốn vòng thì thua. Thua thì mất Cốc Hồi Xuân mười hai năm. Mười hai năm thì có gì.
– Đường chủ sợ anh Mặc đẩy lửa.
– Nó giống cha nó. – Lã Đình Khiêm nói. – Từ cái cách cầm ấn tới cái cách nóng ruột. Đêm lò số chín, cô đọc ra rồi đấy. Đêm ấy trong lò không có cỏ mực, nên lò chỉ nứt. Mai trong lò có cỏ mực. – Giọng ông vẫn đều, nhưng hai bàn tay đặt trên đầu gối đã nắm lại. – Năm Canh Thân, ta đã chôn một người. Ta không chôn thêm người thứ hai.
Nghi nhìn hai bàn tay ấy. Cô nghĩ tới bó cỏ mực bị ném vào lửa ở bếp bà Thoa, tới bó cỏ mực bị ném vào lò sưởi tuần trước. Ông không ghét cái mùi. Ông sợ nó.
– Nếu cô rút, – ông nói, – sau Đan Hội, ta sẽ khắc lại tên bà ấy lên thẻ tre ở cổ bình mẫu. Lặng lẽ thôi. Không ai cần biết.
– Mẹ con không cần tên. – Nghi nói. – Mẹ con bảo bốn vòng hay năm vòng là chuyện trên núi.
Lã Đình Khiêm nhìn cô. Lần đầu tiên, cô thấy ông giật mình.
– Bà ấy nói thế à.
– Dạ.
Ông cúi đầu. Ngọn đèn dầu lắt lay.
– Anh Mặc sẽ không đẩy lửa. – Nghi nói, nhẹ hơn. – Ba tuần nay, lò nào anh ấy cũng muốn đẩy. Lò nào anh ấy cũng không đẩy. Lần này bên lò có người thức.
Lã Đình Khiêm đứng dậy. Ông vén cửa lều, bước ra ngoài, rồi dừng lại. Ông không quay đầu. Gió đêm Cốc Hồi Xuân thổi lạnh, mang theo mùi ngân hoa đang nở.
– Năm ấy, – ông nói, – cũng có người hứa với ta là sẽ thức.
— Hết chương 8 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe