AI Truyện
Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Mũi khâu ở cổ bình mẫu

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba · Chương 5/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Mũi khâu ở cổ bình mẫu

Bà Thoa kéo Nghi vào trong bếp, đóng cửa, cài then. Bếp Đan Đường rộng, tối, ám khói, ba cái nồi đồng to bằng cái thúng úp trên giàn. Mùi mỡ hành, mùi cơm cháy, mùi lá chè tươi lẫn vào nhau. Bà ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh bếp lửa, chỉ cho Nghi một cái ghế thấp hơn.

– Ăn đi đã. – Bà nói. – Nguội thì tanh.

Nghi ăn. Cháo trắng nấu bằng gạo tám, có rắc tí hành phi, thơm như cháo ở nhà. Bà Thoa nhai trầu, nhìn cô ăn, không nói. Tới khi cô vét tới thìa cuối, bà mới hỏi:

– Cháu có cỏ mực trong người?

– Dạ. Mẹ cháu cho. Mấy đêm nay cháu bốc nó, nên tay áo ám mùi.

– Mẹ cháu cho. – Bà Thoa lặp lại, rồi nhổ bã trầu vào cái ống bương cạnh chân. – Hồi trước ở Đan Đường này có một đứa con gái, đêm nào cũng lẻn vào bếp của bà, thả một nhúm cỏ mực vào nồi cháo khuya cho đám đan đồng. Nó bảo đan đồng thức đêm canh lò, gan nóng, phải ăn cái mát. Bà mắng nó cỏ ngoài bờ ruộng mà cũng mang vào bếp. Nó cười, bảo bà Thoa ơi, cái gì ngoài bờ ruộng thì người nghèo mới ăn được.

– Chị ấy tên gì hả bà?

– Lan. Mai Hồi Lan. – Bà Thoa nói. – Đệ tử thứ ba của đường chủ đời trước. Đứa thứ nhất là Lã Đình Khiêm. Đứa thứ hai là thằng em nó, Lã Đình Tuấn. Đứa thứ ba là con Lan. Hồi đó Đan Đường không cấm con gái đứng lò. Con Lan đứng lò giỏi nhất trong ba đứa. Hai thằng kia biết. Cả Đan Đường biết.

Nghi đặt cái bát không xuống.

– Thanh Mạch Đan…

– Là của nó. – Bà Thoa nói, không hạ giọng. Trong cái bếp đóng kín này, bà không cần hạ giọng. – Năm ấy dưới mỏ Khe Sim có bệnh bùn mạch. Người đào linh thạch hít bụi đá cả đời, bụi lắng trong mạch, chân tay tê dại, ho ra bột xám. Người phàm, không ai tu, không ai có tiền mua đan. Tông môn không ngó ngàng. Con Lan một mình xuống mỏ, ở với họ một tháng, về lập ra cái phương ấy. Ba đứa chúng nó luyện ngày luyện đêm. Đêm nào bà cũng nấu cháo khuya, đêm nào con Lan cũng thả cỏ mực vào nồi.

Bà ngừng lại, nhìn vào bếp lửa.

– Rồi một đêm, gần sáng, lò nổ. Bà đang đãi gạo ở giếng sau thì nghe một tiếng như trời sập. Chạy lên thì một góc Đan Đường đổ, khói mù mịt. Thằng Tuấn nằm dưới đống gạch. Con Lan ngồi bệt cạnh cái lò toác, mặt đen nhẻm, không khóc, không nói. Ai hỏi gì cũng không nói.

– Rồi sao hả bà?

– Rồi ba hôm sau, nó bị đuổi khỏi tông môn. Người ta bảo nó đứng lò, nó làm nổ. Đường chủ đời trước già yếu, mất ngay năm ấy. Lã Đình Khiêm lên làm đường chủ, treo tấm bảng Lệnh Cấm Lò. Mấy tháng sau, Thanh Mạch Đan được dâng lên tông chủ, đề tên Lã Đình Khiêm. Người ta bảo phương của con Lan có lỗi, đường chủ phải sửa lại mới dùng được.

Nghi cầm cái bát không, xoay xoay trong tay.

– Bà có tin không?

– Bà là đứa nấu cơm. – Bà Thoa nói. – Bà tin hay không thì có ai hỏi đâu. – Bà nhai trầu một lúc rồi nói tiếp, chậm hơn. – Con Lan cẩn thận lắm. Thái thuốc còn đếm nhát dao. Đêm nào luyện xong nó cũng xuống bếp, rửa tay ba lần bằng nước bồ kết rồi mới cầm bát ăn. Đứa như thế, bà không tin nó đẩy lửa tới nổ lò.

– Mà sao từ đó bà không nấu cỏ mực nữa?

Bà Thoa nhìn cô. Đôi mắt đục như nước vo gạo.

– Vì đường chủ cấm. – Bà nói. – Tuần sau ngày con Lan đi, đường chủ xuống bếp, thấy bó cỏ mực con Lan để lại trên giàn, cầm ném vào lửa. Ông dặn bà: từ nay bếp Đan Đường không được có thứ này. Hai mươi lăm năm, bà không nấu lại.

Bà đưa tay ra, kéo cổ tay áo Nghi lại gần mũi, hít thêm một lần nữa, rồi buông ra.

– Mẹ cháu, – bà hỏi, – người thế nào?

Nghi định trả lời. Mẹ thuận tay trái. Mẹ cắn môi dưới mỗi khi nghĩ việc khó. Mẹ đếm nhát dao khi thái thuốc, cô nhớ rõ từ hồi bé, mẹ thái cam thảo thì lẩm nhẩm đếm tới hai mươi mới ngẩng lên. Mẹ rửa tay ba lần bằng nước bồ kết trước bữa ăn, đến nỗi mấy bà bán hàng cá ngoài chợ hay trêu bà Tư sạch như bà tiên.

Nhưng cô không nói gì cả. Cô thấy cổ họng mình khô khốc.

– Người ở dưới xuôi, có nhiều người thuận tay trái lắm bà ạ. – Cô nói.

Bà Thoa nhìn cô một lúc lâu rồi gật đầu, không hỏi thêm.

Tối hôm ấy, Tề về hầm, mang theo cái giỏ đồ nghề và một tờ giấy phạt. Trưởng lão Trận Đường phạt anh ba tháng lương và một hình phạt mà anh đọc lên bằng cái giọng khô như củi:

– Phạt Cảnh Vân Tề ở lại giữ trận hầm Đan Đường thêm hai năm, không được xin đổi.

Nghi nhìn anh.

– Đó là phạt à?

– Trưởng lão bảo đó là phạt. – Tề gấp tờ giấy lại, nhét vào giỏ. – Tôi không cãi.

Nghi bật cười lần thứ hai trong hầm. Rồi cô kể cho anh chuyện của bà Thoa. Anh nghe, không ngắt lời, tay vẫn gõ que tre lên đá. Khi cô kể xong, anh ngừng gõ.

– Cô nghĩ đó là mẹ cô.

– Tôi không biết. – Nghi nói. – Tôi không muốn nghĩ.

– Cô nói đi.

– Mẹ tôi thuận tay trái. Mẹ tôi thái thuốc đếm nhát. Mẹ tôi rửa tay ba lần bằng nước bồ kết. Mẹ tôi bảo tôi lên núi thì đừng vào Đan Đường. – Cô nói một mạch, rồi dừng lại. – Và tuần trước, đường chủ sai người xuống chợ Cầu Tre hỏi bà bán thuốc có thuận tay trái không.

Tề im tới mức cô tưởng anh không nghe.

– Quách Bảo về rồi. – Anh nói. – Giày dính đất đỏ chân núi. Lão về ngay trước buổi xử.

– Tôi thấy rồi.

– Lão nói gì với đường chủ, không ai biết.

Gần nửa đêm, Mặc xuống hầm lần thứ ba. Anh vừa ở nhà bác về, mặt như tàu lá.

– Bác tôi cấm tôi xuống đây. – Anh nói, ngồi phịch xuống một cái lò phế úp ngược. – Bác bảo Đan Hội tôi phải luyện đúng phương cũ, không thêm không bớt một chữ. Bác bảo đứa tẩy lò ấy học mót được mẹo vặt ở đâu đó, gặp may một lần, đừng tin.

– Anh có tin không?

– Tôi đã thả hai viên vào nước giếng Ngân. – Mặc nói. – Không phải may.

– Vậy anh xuống đây làm gì?

Mặc ngước lên nhìn cô.

– Tôi muốn biết cái phương ban đầu ra sao. – Anh nói. – Trước khi bác tôi sửa. Mẫu Dược Các còn giữ bình mẫu mẻ đầu tiên của mọi phương đan trong tông môn. Bình Thanh Mạch năm Canh Thân chắc chắn còn đó. Đan đồng thi Đan Hội có quyền xin mở bình mẫu để đối chiếu. Luật vậy. Bác tôi không cấm được.

– Anh muốn tôi đi cùng?

– Mẫu Dược Các không cho người mang đồ ra. Muốn đối chiếu phải có người khiêng bình từ kệ xuống bàn. Việc đó là việc của tẩy lò. – Mặc nói. – Đan đồng được dắt theo một người khiêng.

Mẫu Dược Các nằm ở bậc thứ sáu, ngay dưới Giới Luật Đường, một gian nhà đá thấp, mái ngói phủ rêu xanh, quanh năm lạnh như hang. Người giữ các là một ông lão cụt một tay, nói chuyện như hét vì nặng tai. Ông đọc tờ xin mở bình của Mặc ba lần, đóng ấn, rồi dẫn hai người vào trong.

Bên trong là những dãy kệ gỗ cao tới trần, xếp hàng trăm cái bình sứ, bình gốm, bình đồng. Bình nào cũng niêm bằng sáp ong, có một miếng thẻ tre buộc ở cổ. Ông lão chỉ vào một góc kệ dưới cùng, chỗ tối nhất.

– Canh Thân! – Ông hét. – Hàng dưới! Cái thứ ba!

Nghi quỳ xuống, đưa hai tay vào hàng dưới. Bình thứ ba là một cái bình gốm men nâu, to cỡ cái bát ô tô, nặng hơn cô tưởng. Cô bê nó lên đặt trên cái bàn đá giữa gian.

Thẻ tre ở cổ bình đã ngả màu, chữ khắc vẫn rõ: Thanh Mạch Đan, mẻ đầu, năm Canh Thân, tháng Chạp. Bên dưới có một dòng nữa, dòng ghi tên người chế. Dòng ấy đã bị ai lấy mũi dao cạo đi, cạo kỹ, chỉ còn những vết xước song song như vết móng mèo cào.

Mặc nhìn dòng chữ bị cạo. Anh không nói gì.

Lớp sáp niêm đã khô nứt. Ông lão giữ các dùng một con dao mỏng cạy ra từng mảnh. Dưới lớp sáp, quấn quanh cổ bình, có một dải vải.

Nghi đã định nhìn đi chỗ khác. Cô không nhìn đi được.

Đó là một dải vải nâu, cũ tới mức mỏng như lá, quấn ba vòng quanh cổ bình rồi thắt nút. Dọc mép vải, có một hàng mũi khâu chữ thập bằng chỉ xanh. Chỉ đã bạc, nhưng mũi khâu vẫn đều như được đo bằng thước, mỗi mũi chéo đúng hai sợi vải, mũi cuối cùng thắt ngược lại một vòng để không tuột.

Nghi biết cái nút thắt ngược ấy. Cô đã gỡ nó ba đêm trước, dưới hầm, trên bó cỏ mực đáy rương.

Mặc mở nắp bình. Một mùi bay ra. Mùi đã nhạt đi theo hai mươi lăm năm, nhạt như mùi trong một cái tủ cũ, nhưng vẫn nhận ra được. Hăng hăng. Đắng nhẹ. Mùi bờ ruộng sau cơn mưa.

Trong bình có chín viên đan, đã ngả sang màu xanh rêu, nhỏ hơn hạt nhãn một chút vì khô đi.

Mặc xin ông lão một bát nước. Ông lão hét rằng nước giếng Ngân không có, chỉ có nước mưa. Mặc bảo nước mưa cũng được. Anh thả một viên vào.

Viên đan già chìm xuống, nằm im lâu hơn viên đan đêm trước, như người già ngồi dậy chậm. Rồi một sợi tơ xanh vươn lên, mảnh hơn, nhạt hơn, nhưng không đứt. Một vòng. Hai vòng. Ba vòng. Bốn vòng. Vòng thứ năm khép lại không tròn, đứt ở giữa chừng.

– Bốn vòng rưỡi. – Mặc nói. – Hai mươi lăm năm trong bình mà còn bốn vòng rưỡi.

Anh quay sang nhìn Nghi. Anh định nói gì đó về cỏ mực, về dòng tên bị cạo, về bác anh. Nhưng anh thấy mặt cô, và anh im.

Nghi đứng yên trước cái bàn đá. Cô không nhìn bát nước. Cô nhìn dải vải nâu quấn ở cổ bình, hàng mũi khâu chữ thập chỉ xanh, cái nút thắt ngược một vòng.

Mẹ cô vẫn khâu đúng mũi ấy lên miệng từng túi thuốc ở chợ Cầu Tre, để khách quen nhìn là biết. Thuốc nhà bà Tư.

— Hết chương 5 —

Mục lục Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

  1. 1Lò số chín nứt lúc canh tư9 phút
  2. 2Cuộn giấy sém dưới hầm10 phút đọc
  3. 3Nửa nắm cỏ mực10 phút đọc
  4. 4Ba chữ của Lệnh Cấm Lò10 phút đọc
  5. 5Mũi khâu ở cổ bình mẫu10 phút đọc
  6. 6Đêm bóc lạc ở chợ Cầu Tre10 phút đọc
  7. 7Ngọn đèn lồng giấy dầu9 phút đọc
  8. 8Luật của người phụ lò11 phút đọc
  9. 9Tiếng rít bên kia đài10 phút đọc
  10. 10Một bó cỏ mực, một đồng10 phút đọc

Về truyện này

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →