Chương 4: Ba chữ của Lệnh Cấm Lò
Giới Luật Đường nằm ở bậc thứ tám, cao hơn Đan Đường ba bậc, lạnh hơn mười phần. Từ cái hầm nóng như lò bánh mì đi lên tới đây, Nghi thấy mồ hôi trên lưng mình đông lại thành từng hạt lạnh.
Đại sảnh lát đá xanh, không có một món trang trí. Trên vách chính chỉ treo một thanh kiếm gỗ dài, mộc, không sơn. Người ta bảo đó là thanh kiếm tổ sư dùng để dạy đệ tử đầu tiên, và cũng là thanh kiếm duy nhất trong Giới Luật Đường chưa từng chém ai.
Trưởng lão Hà Bích Thu ngồi dưới thanh kiếm ấy. Bà ngoài năm mươi, tóc búi gọn bằng một cây trâm sừng, áo đen không viền, tay áo bó chặt như người sắp ra sân luyện. Kiếm tu cảnh Tụ Hồ, giữ Giới Luật Đường mười chín năm. Đệ tử ngoại môn đồn rằng bà nhớ từng điều luật của Vọng Dược Tông, từng chữ, kể cả những điều đã bị bãi bỏ.
Bên trái sảnh là Lã Đình Khiêm, ngồi ghế, có quản sự Quách Bảo đứng sau. Quách Bảo mới về núi tối qua, giày còn dính đất đỏ chân núi. Bên phải là Lã Tử Mặc, đứng, tay chắp sau lưng. Cạnh Mặc là Cảnh Vân Tề, áo xám lấm bồ hóng, như vừa từ hầm đi lên mà không kịp thay.
Cái lò phế lủng đáy đặt giữa sảnh, trên một tấm chiếu.
– Viên An Nghi. – Hà Bích Thu nói. Giọng bà không to, nhưng đi tới từng góc sảnh như nước tràn. – Đường chủ Đan Đường tố cô tự ý đứng lò luyện đan, trái Lệnh Cấm Lò. Cô nhận hay không?
– Thưa trưởng lão, con không nhận. – Nghi nói.
Quách Bảo bật một tiếng cười ngắn trong cổ họng.
– Lò còn đây, thuốc còn dính dưới đáy, mà không nhận.
– Lò có. Thuốc có. – Nghi đáp. – Nhưng Lệnh Cấm Lò không cấm lò, không cấm thuốc. Nó cấm đứng lò ở Đan Đường. Con xin trưởng lão cho con được hỏi từng chữ.
Hà Bích Thu nhìn cô một lúc. Rồi bà gật đầu, rất khẽ.
– Hỏi.
– Chữ thứ nhất: ở Đan Đường. – Nghi quay về phía Tề. – Anh Cảnh, cái hầm dưới chân Đan Đường thuộc sổ của đường nào?
Tề bước lên một bước, chắp tay.
– Thưa trưởng lão, thuộc sổ Trận Đường. – Anh nói. – Từ năm Canh Thân, sau khi Đan Đường cũ sập một góc vì nổ lò, tông môn xây lại. Lúc xây lại, tông chủ đời trước lệnh: địa hỏa mạch trận phải do Trận Đường quản, người Đan Đường không được tự ý mở lửa. Cả cái hầm giao cho Trận Đường. Bia đá ghi việc này còn đặt ở cửa Trận Đường, bên trái, dưới gốc ngọc lan.
Quách Bảo cau mặt. Lã Đình Khiêm không nhúc nhích.
– Thật vậy. – Hà Bích Thu nói. – Ta có đọc bia đó. Hỏi tiếp.
– Chữ thứ hai: lò. – Nghi nói. – Lò này là lò phế. Thưa quản sự Quách, lò phế từ sảnh giao xuống hầm thì thuộc về ai?
Quách Bảo đỏ mặt, không trả lời. Hà Bích Thu trả lời thay:
– Thuộc người tẩy lò. Đồng nát bán đi, tẩy lò được chia ba phần. Luật có từ thời tông chủ đời thứ tư. – Bà nhìn Quách Bảo. – Giấy giao lò phế tháng trước, quản sự ký chứ?
– Dạ… tôi ký.
– Hỏi tiếp.
– Chữ thứ ba: đứng lò. – Nghi nói, chậm lại. – Thưa trưởng lão, ở Đan Đường, nói đứng lò nghĩa là cầm ấn lửa. Người khiêng thuốc đứng cạnh lò không gọi là đứng lò. Người thái thuốc đứng cạnh lò cũng không. Con chỉ có Khơi Nguồn tầng bốn, linh lực không đủ bấm một ấn lửa cho tròn. Ba đêm ấy, lửa là của anh Cảnh, giữ từ đá trận. Con chỉ nhìn thuốc và khuấy.
Cả sảnh im.
Rồi Lã Đình Khiêm lên tiếng, lần đầu tiên trong buổi sáng. Giọng ông vẫn trầm và đều, như nước dưới cầu.
– Thưa trưởng lão, thuốc trong lò ấy không phải thuốc phế. Bảy vị, đủ phân lượng. Đó là thuốc của Đan Đường. Một đứa tẩy lò lấy đâu ra?
Nghi đã chuẩn bị cho câu này. Cô định nói thuốc là đầu thừa đuôi thẹo cô gom khi thái thuốc, cũng là lộc của người thái. Câu ấy nằm sẵn trên đầu lưỡi. Nhưng cô chưa kịp mở miệng thì Mặc đã bước lên.
– Thuốc là cháu đưa. – Anh nói.
Lã Đình Khiêm quay đầu lại. Đó là lần đầu tiên Nghi thấy mặt hồ trong mắt ông gợn sóng.
– Luật Đan Đường cho đan đồng lấy thuốc thử phương. – Mặc nói tiếp, giọng hơi run nhưng không ngừng. – Mỗi tháng một phần mười phân lượng. Tháng này cháu chưa lấy. Cháu lấy, cháu mang xuống hầm, cháu muốn xem nếu thử theo một cách khác thì Thanh Mạch ra sao. Cô ấy chỉ khuấy.
– Mặc. – Lã Đình Khiêm nói. Chỉ một tiếng.
– Bác. – Mặc đáp. Cũng chỉ một tiếng.
Hà Bích Thu nhìn hai bác cháu, rồi nhìn cái lò, rồi nhìn Nghi.
– Thử theo cách khác, ra sao? – Bà hỏi.
Mặc rút trong tay áo ra một gói giấy nhỏ, mở ra. Viên đan xanh lá non nằm giữa lòng giấy, tròn như hạt nhãn.
– Đêm qua cháu đã thả một viên vào nước giếng Ngân. – Mặc nói. – Ở sảnh Đan Đường, có hai đan đồng thấy. Năm vòng tơ. Nước trong. Viên này là viên thứ hai, cháu chưa thử. Xin trưởng lão cho thử trước mặt mọi người.
Một đệ tử Giới Luật Đường mang tới một cái bát sứ trắng và một bình nước giếng Ngân. Nước giếng Ngân trong tới mức đổ vào bát mà nhìn như bát rỗng. Hà Bích Thu tự tay thả viên đan vào.
Lần này Nghi không nhìn cái bát. Cô nhìn Lã Đình Khiêm.
Ông ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối. Khi sợi tơ xanh vươn lên vòng thứ ba, ông không động. Vòng thứ tư, ông không động. Vòng thứ năm khép lại sát miệng bát, có tiếng ai đó trong sảnh hít mạnh một hơi. Lã Đình Khiêm nhắm mắt lại. Không lâu. Chỉ một cái chớp mắt dài hơn bình thường.
– Năm vòng. – Hà Bích Thu nói. – Ta giữ Giới Luật Đường mười chín năm, uống Thanh Mạch Đan hai lần, chưa thấy năm vòng. – Bà quay sang Nghi. – Cách khác ấy là gì?
Nghi cúi đầu.
– Thưa trưởng lão, luật Đan Đường cho người thử phương giữ kín phương của mình cho tới khi dâng phương. – Cô nói. – Con chưa dâng.
Quách Bảo sầm mặt. Hà Bích Thu nhìn cô, và lần này, ở khóe môi bà, Nghi thấy một vệt gì đó rất giống nụ cười, nhưng biến đi ngay.
– Đúng luật. – Bà nói. – Ta xử.
Bà đứng dậy. Cả sảnh đứng theo.
– Viên An Nghi không đứng lò, không ở Đan Đường, không dùng lò của Đan Đường. Tội tố không thành. – Bà nói. – Lã Tử Mặc lấy thuốc thử phương đúng luật. Cảnh Vân Tề mở đường lửa trong hầm của Trận Đường, việc đó trưởng lão Trận Đường xử, Giới Luật Đường không xen vào.
Bà ngừng lại. Ánh mắt bà rời Nghi, đi qua Mặc, dừng lại ở Lã Đình Khiêm.
– Nhưng ta có một câu hỏi, không phải cho phiên xử này. – Bà nói. – Lã đường chủ, Lệnh Cấm Lò có từ năm nào?
– Năm Canh Thân. – Lã Đình Khiêm đáp, không chần chừ.
– Năm lò Thanh Mạch nổ.
– Phải.
– Người đứng lò năm ấy là nữ?
– Phải. – Ông nói. – Một nữ đệ tử. Lò nổ, chết một người.
– Một người làm sai, – Hà Bích Thu nói, – mà cấm cả nửa tông môn hai mươi lăm năm.
– Lửa đan không có lần thứ hai, trưởng lão. – Lã Đình Khiêm đáp. Giọng ông vẫn đều, nhưng Nghi nghe ra có cái gì đó bên dưới nó, như đá ngầm dưới mặt sông. – Chết một người là đủ.
Hà Bích Thu không nói thêm. Bà phất tay áo, bãi buổi xử.
Người ta khiêng cái lò phế trả về hầm. Lã Đình Khiêm đứng dậy, đi ra cửa, đi ngang qua chỗ Nghi đứng. Ông không nhìn cô. Ông dừng lại ở ngưỡng cửa, quay đầu về phía sau, nói với Mặc, rất khẽ, nhưng sảnh đá vang nên Nghi nghe rõ từng chữ:
– Tối nay lên nhà bác.
Rồi ông đi. Quách Bảo theo sau, lúc đi qua còn liếc Nghi một cái dài như nhát dao.
Ra tới sân, Tề đi thẳng về phía Trận Đường để chịu phạt, không quay lại. Nghi đứng dưới hiên một lúc, chờ Mặc. Anh đi ra sau cùng, mặt bần thần.
– Anh không cần phải nhận chuyện thuốc. – Cô nói.
– Cô định nói thuốc là đầu thừa đuôi thẹo. – Mặc nói. – Bác tôi sẽ cho người đi cân từng sọt thuốc trên sảnh. Cân ra không thiếu, thì cô nói dối trước Giới Luật Đường. Tội ấy nặng hơn đứng lò.
Nghi im. Cô chưa nghĩ tới chuyện cân sọt.
– Còn một chuyện. – Mặc nói. – Không phải tôi tố cô.
– Tôi biết.
– Cô biết?
– Anh mà tố thì anh đã không đứng ra nhận thuốc.
Mặc cười. Một cái cười méo, ngắn, như cười một mình.
– Đêm qua tôi thả viên đan vào nước giếng Ngân trên sảnh. Bác tôi đi ngang. Bác hỏi đan ở đâu ra. Tôi không nói. Bác không hỏi lại. Sáng nay thì Giới Luật Đường xuống hầm. – Anh nhìn ra phía bậc ruộng thuốc dưới kia. – Bác tôi không cần hỏi lại. Cả Đan Đường chỉ có một chỗ không ai để ý.
Hai người đứng im một lúc. Gió núi thổi qua, mang theo mùi ngưu tất đang trổ bông.
– Năm Canh Thân. – Mặc nói, không nhìn cô. – Lò Thanh Mạch nổ. Chết một người. Người ấy là cha tôi.
Nghi quay sang nhìn anh.
– Tôi mới đầy năm. Tôi không nhớ mặt cha. – Mặc nói tiếp, giọng bình thường như nói chuyện thời tiết. – Tôi chỉ biết lớn lên trong nhà bác, học luyện đan trong Đan Đường của bác, đứng dưới tấm bảng Lệnh Cấm Lò mỗi sáng. Bác bảo tấm bảng ấy treo đó cho cha tôi. – Anh ngừng lại. – Cô hiểu tại sao sáng nay bác tôi tố cô rồi chứ.
Nói xong, anh đi. Không đợi cô trả lời.
Nghi đi xuống hầm một mình. Tới bậc thứ năm của Đan Đường, chỗ rẽ vào bếp, cô nghe có tiếng gọi:
– Con bé tẩy lò. Lại đây.
Bà Thoa ngồi trên cái ghế đẩu thấp ở cửa bếp, đang nhặt rau muống. Bà nấu cơm cho Đan Đường bốn mươi năm, lưng còng, tóc bạc trắng búi củ hành, miệng lúc nào cũng nhai trầu. Đan đồng nào cũng sợ bà, vì ai ăn còn cơm trong bát là bị bà mắng tới đời ông.
Nghi lại gần. Bà Thoa đặt rổ rau xuống, múc cho cô một bát cháo trắng còn bốc khói từ cái nồi đất trên bếp, đưa tận tay.
– Ăn đi. Từ sáng tới giờ chưa có gì vào bụng.
Nghi đỡ bát cháo. Bà Thoa không buông tay ngay. Bà cầm lấy cổ tay áo của Nghi, kéo lại gần mặt mình, hít một hơi dài. Lần nữa. Rồi bà buông ra, ngồi im, đôi mắt già đục như nước vo gạo nhìn sững vào cô.
– Cái mùi trong tay áo cháu. – Bà nói, giọng run run. – Hai mươi lăm năm rồi, bà mới ngửi lại cái mùi này trong Đan Đường.
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe