AI Truyện
Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Một bó cỏ mực, một đồng

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Một bó cỏ mực, một đồng

Lã Đình Khiêm đứng im rất lâu. Gió thung lũng thổi tóc bạc của ông lòa xòa trước mặt. Ông không vuốt lại.

Nghi nghĩ ông sẽ nói dối. Ông đã nói dối hai mươi lăm năm, bằng một tấm bảng gỗ treo ở cửa Đan Đường. Một lần nữa thì có khó gì. Ông chỉ cần nói: người đứng lò năm ấy là Mai Hồi Lan. Cả tông môn đã tin câu ấy từ lâu.

Rồi ông nhìn sang đài Song Phong. Nhìn cái lò của Huyền Lô Các, nắp còn hơi lệch, thành lò còn đọng một vệt khói đen. Cái lò suýt nổ. Ông nhìn nó như nhìn một người quen cũ.

– Cha con. – Ông nói.

Hai chữ ấy rơi xuống thung lũng, không vang, không dội, như một hòn sỏi rơi xuống ruộng.

Mặc không động đậy.

– Đêm ấy là đêm thứ mười hai. – Lã Đình Khiêm nói. Giọng ông vẫn trầm, vẫn đều, nhưng đã khác. Như nước dưới cầu vừa gặp một đoạn thác. – Sư muội Lan ba ngày không ngủ. Cô ấy dặn cha con giữ lửa văn, rồi ngồi xuống cạnh lò. Dưới mỏ có người chạy lên báo, đêm ấy chết thêm ba người. Cha con sốt ruột. Nó muốn kịp thêm một mẻ trước khi trời sáng. Nó đẩy lửa ở nén thứ tư. – Ông ngừng lại, nhìn lò của Tố Hoa. – Như lúc nãy. Đúng như lúc nãy. Chỉ là lần ấy không ai kịp kêu.

Ông quay lại nhìn cháu.

– Bác đứng ở cửa Đan Đường. Bác thấy tay nó trên ấn lửa. Bác không biết dầu ngân hoa với lửa vũ thì thế nào. Bác chỉ thấy lò rung. Bác chưa kịp kêu thì lò nổ.

Không ai trong thung lũng nói gì. Cụ Ngụy đứng chống gậy, mắt nhắm. Tố Hoa đứng trên đài, hai tay nắm lại.

– Hôm sau, bác tới chỗ sư muội. – Lã Đình Khiêm nói. – Bác quỳ, bác xin cô ấy nhận thay. Bác bảo: vợ thằng Tuấn đang ôm đứa con mới đầy năm. Bác bảo: cả nhà họ Lã sẽ bị đuổi khỏi Đan Đường. Bác bảo: em ngủ gục bên lò, em cũng có lỗi. – Ông cười, một cái cười rất ngắn, như tự cười vào mặt mình. – Câu cuối là câu bác nói để cô ấy dễ gật đầu. Cô ấy gật.

– Còn tấm bảng. – Hà Bích Thu nói, khẽ.

– Tấm bảng là để không ai hỏi. – Lã Đình Khiêm nói. – Người ta nhìn tấm bảng, người ta có câu trả lời rồi. Đàn bà đứng lò thì lò nổ. Không ai hỏi thêm vì sao. Không ai hỏi người đẩy lửa là ai.

– Còn cỏ mực? – Mặc hỏi. Giọng anh khàn đặc.

– Bác tưởng cỏ mực là cái làm lò nổ. – Ông nói. – Đêm ấy trong lò có cỏ mực. Bác không hiểu thuốc như cô ấy. Bác chỉ thấy: có cỏ mực, lò nổ. Không có cỏ mực, bốn vòng, nhưng lò không nổ. Bác chọn bốn vòng. Hai mươi lăm năm, Đan Đường không có cái lò nào nổ. Bác tưởng bác đúng.

Ông nhìn cái bát sứ trên đài, sợi tơ xanh đã tan, nước trong vắt.

– Bác đúng một nửa. – Ông nói. – Nửa còn lại là cái bác không muốn biết. Vì muốn biết thì phải nói ra tên người đẩy lửa.

Mặc đứng im, lâu tới mức ngọn gió thung lũng đã đổi chiều. Rồi anh hỏi một câu mà Nghi không ngờ:

– Cha con đẩy lửa vì sao?

– Vì dưới mỏ có người chết. – Lã Đình Khiêm nói. – Vì nó nóng ruột cứu người. Nó không phải đứa dại. Nó là đứa thương người quá, không chờ được.

Mặc gật đầu. Rồi anh quay đi, đi về phía đài Song Phong, đi ngang qua chỗ Nghi đứng mà không nhìn cô. Anh leo lên đài, tới chỗ cái lò của mình, đặt bàn tay lên thành lò đã nguội. Anh đứng như thế rất lâu, lưng quay về phía thung lũng. Không ai lại gần anh.

Ba ngày sau, ở đại điện Vọng Dược Tông, tông chủ cho gỡ tấm bảng Lệnh Cấm Lò.

Người gỡ là Hà Bích Thu. Bà đứng trên thang tre, dùng một cái đục nhỏ cạy bốn cái đinh đồng, đỡ tấm bảng xuống bằng hai tay như đỡ một thanh kiếm. Bà không đập nó. Bà sai người mang nó vào Giới Luật Đường, treo cạnh thanh kiếm gỗ của tổ sư.

– Để người sau nhìn mà nhớ. – Bà nói. – Một tấm bảng sai treo hai mươi lăm năm thì làm được những gì.

Lã Đình Khiêm xin thôi chức đường chủ. Tông chủ cho. Ông không bị đuổi. Ông chỉ xin một gian nhà nhỏ ở bậc ruộng thứ bảy, cạnh luống ngân hoa, nói là để trồng thuốc. Quách Bảo thì bị đuổi khỏi tông môn, sáu mươi lượng Huyền Lô Các trả bị thu về nộp kho. Ba mươi lượng lão trả nợ thay cho nhà Bông thì Hà Bích Thu xử thế này: tiền ấy lão bỏ ra mua chuộc, không phải tiền cho vay, Bông không phải trả lại. Nhưng Bông bị phạt quét sân Giới Luật Đường ba tháng. Bông quét mà cười suốt, cười tới mức chấp sự phải nhắc.

Trên thẻ tre buộc ở cổ bình mẫu Thanh Mạch Đan, năm Canh Thân, tháng Chạp, dòng chữ bị cạo được khắc lại. Người khắc là Lã Đình Khiêm. Ông xin Mẫu Dược Các cho tự tay làm. Ông lão giữ các cụt một tay hét lên rằng việc ấy là việc của Mẫu Dược Các, rồi đưa cho ông con dao khắc.

Mặc không xuống hầm nữa. Đan Đường giờ không có đường chủ, tông chủ giao tạm cho anh trông. Nhưng chiều thứ năm sau Đan Hội, anh xuống bếp tìm Nghi.

– Cô có định về chợ Cầu Tre không?

– Tuần sau.

– Cho tôi đi cùng.

Nghi nhìn anh.

– Tôi chưa bao giờ biết mặt người đã nhận thay cha tôi. – Mặc nói. – Hai mươi lăm năm.

Họ đi đò xuôi sông Lạc Thủy, ba người. Mặc, Nghi, và Tề. Tề bảo trưởng lão Trận Đường cho anh nghỉ năm ngày, vì bộ lò trận đi Cốc Hồi Xuân về không hỏng cái gì, thế là được thưởng. Nghi hỏi thưởng năm ngày nghỉ mà sao lại đi theo cô về chợ. Tề nói: ở trên núi năm ngày thì lại xuống hầm, quen chân.

Chợ Cầu Tre lúc ấy đã qua mùa hoa gạo. Cây gạo đầu chợ trổ lá non xanh mướt, quả gạo bắt đầu nứt, bông trắng bay lả tả như tuyết. Dưới gốc gạo, bà Tư vẫn ngồi trên chõng tre, vẫn thái thuốc tay trái.

Mẹ ngẩng lên. Mẹ thấy Nghi. Mẹ thấy người thanh niên áo xám lấm bồ hóng đứng sau Nghi. Rồi mẹ thấy người thanh niên áo trắng.

Con dao dừng giữa không trung.

Mặc bước tới. Anh không chắp tay. Anh quỳ xuống trước chõng tre, ngay giữa chợ, giữa tiếng rao bánh đúc, mắm tép, rau má. Mấy bà bán cá bên cạnh ngừng tay, há miệng nhìn.

– Cháu là con của Lã Đình Tuấn. – Anh nói.

Mẹ nhìn anh, không chớp. Nhìn đôi mắt. Rồi mẹ đặt con dao xuống thớt, chùi tay vào vạt áo, cúi người xuống, đỡ hai khuỷu tay anh đứng dậy.

– Đứng lên. – Mẹ nói. – Chợ đông, quỳ thế người ta tưởng mẹ đòi nợ.

Mặc đứng lên. Mắt anh đỏ hoe.

– Giống. – Mẹ nói, khẽ, như nói với chính mình. Rồi mẹ quay sang Nghi, mắt nheo lại. – Mẹ dặn rồi mà.

– Con không nói. – Nghi đáp. – Anh ấy tự hỏi.

Mẹ nhìn Mặc, rồi thở dài, rót nước vối ra ba cái bát.

– Ừ. – Mẹ nói. – Nhà họ Lã, đứa nào cũng nóng ruột.

Rồi mẹ nhìn Tề.

– Còn cậu này là ai?

Tề chắp tay, cúi đầu, đúng phép.

– Dạ, con giữ lửa. – Anh nói.

Mẹ nhìn anh một lúc. Rồi nhìn Nghi. Nghi quay đi chỗ khác, giả vờ nhìn mấy mớ rau má.

– Giữ lửa thì tốt. – Mẹ nói. – Nhà này thiếu người giữ lửa.

Ba người ở lại chợ Cầu Tre hai ngày. Mặc ngồi với mẹ dưới gốc gạo cả một buổi chiều, hỏi chuyện cha anh. Mẹ kể chuyện Tuấn hồi mười bảy tuổi trộm khoai lang của bà Thoa nướng trong lò đan, chuyện Tuấn hay hát dở mà hát to, chuyện Tuấn khóc khi thằng thợ mỏ đầu tiên uống đan rồi ho ra được cục bùn đầu tiên. Mặc nghe, cười, rồi khóc, rồi lại cười. Tề sửa lại cái nhịp thứ bảy trên cây cầu tre, cái nhịp có thanh tre nứt mà mấy chục năm không ai thay. Nghi ngồi thái thuốc cạnh mẹ, tay phải, đếm nhát.

Hai tháng sau, Đan Đường cho nữ đệ tử đầu tiên đứng lò. Đó là một buổi sáng mưa phùn, mười hai cái lò trên sảnh bén lửa cùng một lúc, và ở lò số chín, lò vừa đúc lại, Viên An Nghi bấm ấn lửa. Cô đã lên Khơi Nguồn tầng sáu, đủ để bấm một ấn tròn. Dưới hầm, Cảnh Vân Tề giữ đường lửa số chín. Cô không cần nói lên hay xuống. Anh biết.

Mẻ ấy ra năm vòng. Không ai ngạc nhiên. Bông, giờ là phụ lò, ôm hòm thuốc đứng bên cạnh, cười tới mang tai.

Cũng trong tháng ấy, có một chuyện chỉ mình Nghi biết, vì cô về nhà đúng hôm đó.

Một buổi sáng chợ đông, có một ông già tóc bạc trắng, mặt không một nếp nhăn, mặc áo nâu như người làm ruộng, đi qua cây cầu tre vào chợ. Tới nhịp thứ bảy, ông dừng lại, nhún chân thử một cái, như người nhớ ra cái nhịp ấy hồi trước có một thanh tre nứt. Thanh tre ấy giờ đã được thay.

Ông đi tới sạp thuốc dưới gốc gạo. Ông đứng trước sạp, không nói gì, đủ lâu để bà bán cá bên cạnh phải liếc sang.

Mẹ Nghi ngẩng lên. Con dao trong tay trái không dừng giữa không trung. Nó hạ xuống thớt, đều như mọi nhát khác.

– Mua gì? – Mẹ hỏi.

– Cỏ mực. – Ông nói. – Một bó.

Mẹ với tay lấy một bó cỏ mực phơi khô trên giàn, đặt lên mảnh vải nâu, gói lại. Mẹ xâu kim, khâu một hàng mũi chữ thập chỉ xanh dọc mép vải. Mũi cuối, mẹ thắt ngược lại một vòng.

Mẹ đưa gói cỏ cho ông. Ông đưa một đồng.

– Nửa nắm lúc nén hương thứ ba. – Mẹ nói, mắt nhìn xuống thớt. – Nửa nắm lúc khép lửa. Hồi đó tôi nói rồi.

Lã Đình Khiêm cầm gói cỏ mực trong hai tay, như cầm một bát nước đầy.

– Ừ. – Ông nói. – Hồi đó cô nói rồi.

Ông quay đi, qua cây cầu tre, về phía bến đò. Mẹ Nghi cầm con dao lên, thái tiếp. Môi mẹ mấp máy. Mười tám. Mười chín. Hai mươi.

Mẹ không ngẩng lên.

— Hết —

Mục lục Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba

  1. 1Lò số chín nứt lúc canh tư9 phút
  2. 2Cuộn giấy sém dưới hầm10 phút đọc
  3. 3Nửa nắm cỏ mực10 phút đọc
  4. 4Ba chữ của Lệnh Cấm Lò10 phút đọc
  5. 5Mũi khâu ở cổ bình mẫu10 phút đọc
  6. 6Đêm bóc lạc ở chợ Cầu Tre10 phút đọc
  7. 7Ngọn đèn lồng giấy dầu9 phút đọc
  8. 8Luật của người phụ lò11 phút đọc
  9. 9Tiếng rít bên kia đài10 phút đọc
  10. 10Một bó cỏ mực, một đồng10 phút đọc

Về truyện này

Vòng cháy đen ở nén hương thứ ba là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →