AI Truyện
Vị cơm cháy ở nhà thùng Dương Đông

🔍 Trinh thám

Cái núm đồng hồ

Vị cơm cháy ở nhà thùng Dương Đông · Chương 9/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Cái núm đồng hồ

– Nó thơm phức. – Ông Út Ba nói. – Thơm mùi xà bông chanh. Tui còn chọc nó: mày đi đám giỗ mà tắm thơm như đi coi mắt vợ.

Ông Út Ba bảy mươi hai tuổi, đi biển cả đời, giờ ngồi nhà vá lưới. Ông ngồi trên bộ ván trước hiên, tay vẫn đưa cây kim vá lưới thoăn thoắt, mắt nheo lại nhìn đại úy Hạo. Cô Chanh ngồi trên cái ghế đẩu bên cạnh, ly trà trong tay. Ngoài sân, mấy tấm lưới cước xanh phơi trên sào, gió từ biển thổi vô lùa qua làm chúng phập phồng như ai thở.

– Ông nhớ chú Bảy tới lúc mấy giờ không ông?

– Chín giờ bốn mươi. Tui nhớ vì cái phim bộ tối đó vừa hết, bà nhà tui còn ngồi khóc theo con nhỏ trong phim. Thằng Thình bước vô, tóc còn ướt, nhỏ nước xuống cổ áo. Tui hỏi sao tới trễ, nó nói ở nhà thùng làm tới tối mịt, về tắm rửa mới qua.

Ông Hạo gật đầu. Cô Chanh nhìn ly trà trong tay. Xà bông chanh. Cái mùi chanh hóa học rẻ tiền cô ngửi thấy trên nền gạch kho chiết, sáng hôm cô bước qua ngạch cửa.

Cô không nói gì. Có thể cả xóm này xài một loại xà bông.

– Rồi chú Bảy ngồi tới mấy giờ?

– Tới mười hai giờ hơn. Ngồi mâm với tui, với mấy ông bạn ghe.

– Chú có đi ra ngoài lần nào không?

Ông Út Ba ngừng tay vá lưới.

– Có. Một lần. Chừng mười giờ rưỡi. Nó ra đầu ngõ nghe điện thoại. Chừng năm phút thì vô. Tui hỏi ai gọi, nó nói thằng cháu.

– Rồi lúc mười một giờ thì sao? Có chuyện gì không ông?

Ông Út Ba nghĩ một chút, rồi bật cười.

– À. Cái đó thì tui nhớ. Thằng Thình nó đứng dậy, cầm ly rượu, nói to cho cả mấy mâm nghe: mười một giờ rồi bà con ơi, uống ly cuối rồi về cho ông Út ngủ. Nó còn coi đồng hồ điện thoại, giơ lên cho cả mâm coi. Ai cũng cười. Rồi uống ly cuối. Rồi ngồi thêm một tiếng nữa mới về. – Ông lắc đầu. – Thằng Thình ít nói lắm, tối đó nó nói nhiều. Tui tưởng nó buồn vì ông Tư tính bán nhà thùng.

Ông Hạo nhìn cô Chanh. Cô Chanh nhìn lại.

Mười một giờ. Có người đứng lên, giơ đồng hồ cho cả ba mâm cùng coi. Có người làm cho ba chục người cùng nhớ một con số.

– Ông Út. – Ông Hạo nói. – Ông có nhớ mấy mâm người ta ngồi tới mười một giờ, ai cũng nhớ giờ đó, là nhờ ai không?

Ông Út Ba im một lúc. Cây kim vá lưới dừng giữa chừng.

– Nhờ thằng Thình. – Ông nói chậm. – Nó nói.

Từ nhà ông Út Ba, ông Hạo chở cô Chanh ra con đường chợ Dương Đông, dừng trước một tiệm sửa đồng hồ nhỏ xíu kẹp giữa tiệm vàng và tiệm thuốc tây. Ông thợ đồng hồ là một ông già người Hoa, mắt đeo kính lúp, ngồi trong cái tủ kính như con ốc trong vỏ. Ngân đã mang cái đồng hồ của ông Tư tới từ sáng, có kiểm sát viên đi cùng, làm biên bản.

Ông thợ đồng hồ đặt cái đồng hồ lên tấm vải nhung xanh, lật mặt sau cho ông Hạo coi.

– Máy không có hư. – Ông nói, giọng lơ lớ. – Tui mở ra coi rồi. Bánh xe, lò xo, cái gì cũng tốt. Chỉ có cái kính bể thôi.

– Vậy sao kim lại đứng?

Ông thợ cầm cây nhíp, chỉ vào cái núm nhỏ.

– Tại cái núm. Loại máy này, mình kéo núm ra hết nấc là kim đứng lại, để mình chỉnh giờ cho đúng từng giây. Đẩy núm vô là kim chạy lại. Cái này núm đang kéo ra hết nấc. Nên kim đứng.

Ông Hạo im một lúc.

– Nếu một người té ngã, cổ tay đập xuống nền, kính bể. Cái núm có thể tự bật ra không ông?

Ông thợ đồng hồ lắc đầu, cười khẽ.

– Không đâu. Cái núm này phải lấy móng tay kéo. Chặt lắm. Té mà làm bật ra nấc chót được thì cái máy bên trong cũng tan nát hết rồi. Máy này còn nguyên. – Ông ta đẩy cái núm vào bằng cây nhíp. Ngay lập tức cây kim giây nhích lên, đi đều. Tích, tích, tích. – Đó. Chạy ngon lành. Có người kéo núm ra, vặn kim tới mười một giờ tám, rồi để đó. Kính bể là bể sau, hoặc bể trước, cái đó tui không biết.

Cô Chanh nhìn cây kim giây nhích đi trên mặt đồng hồ vỡ. Tích, tích, tích. Giống như tiếng giọt mắm nhỏ xuống từ cái lù thùng mười chín, buổi sáng hôm đó, đều như đồng hồ.

Cái đồng hồ đã đứng ở mười một giờ tám phút không phải vì ông Tư té lúc đó. Nó đứng vì có người muốn nó đứng ở đó.

Buổi chiều, ông Hạo nhận lệnh khám xét chỗ ở của Lý Văn Thình.

Nhà chú Bảy Thình ở xóm Bến Tràm, một căn nhà ván nhỏ mái tôn, phía sau có cái chòi lợp lá chứa củi, chứa rơm, chứa mấy cái lưới cũ. Ông Hạo dẫn theo Ngân, hai chiến sĩ, một kiểm sát viên, và cô Chanh. Ông nói cần cô có mặt để nếm, nếu có thứ gì cần nếm.

Chú Bảy Thình không có nhà. Cửa trước khóa. Chiếc xe máy cũ của chú dựng dưới gốc xoài. Bà hàng xóm nói chú đi bộ ra phía bờ sông từ hồi trưa, không nói đi đâu.

Ông Hạo nhìn chiếc xe máy một lúc lâu, rồi ra hiệu bắt đầu.

Trong nhà không có gì. Một cái giường tre, một cái tủ gỗ, một bàn thờ nhỏ có tấm ảnh một người đàn bà gầy gò, tóc búi, cười hiền. Huỳnh Thị Mai. Thím Bảy. Trước tấm ảnh có một cái chén nhỏ, đựng một chút nước mắm màu cánh gián.

Cô Chanh đứng nhìn cái chén nước mắm trên bàn thờ. Ở xứ mắm, người ta cúng nhiều thứ, nhưng ít ai cúng chén nước mắm không. Cô không đụng vào. Cô chỉ cúi xuống ngửi.

Cơm cháy.

Cô đứng thẳng dậy, nói với ông Hạo. Ông gật đầu, ra hiệu cho Ngân lấy mẫu.

Trong cái chòi phía sau, dưới một đống rơm khô cao ngang ngực, hai chiến sĩ moi ra sáu cái can nhựa trắng ba mươi lít. Còn mới. Nắp xanh. Năm cái đầy. Một cái méo một bên hông, cái nắp nứt một đường, mắm rỉ ra thấm vào rơm thành một vệt sẫm màu.

Cô Chanh không cần nếm. Mùi nhựa mới xộc lên ngay khi người ta kéo can ra khỏi rơm. Cái mùi nồng nồng, ngai ngái cô ngửi thấy trên cổ tay áo của ông Tư.

Nhưng cô vẫn nếm. Ông Hạo muốn có biên bản. Ngân rót ra sáu cái ly. Cô nếm từng cái.

Sáu can. Cả sáu đều là nhĩ thùng mười chín.

– Đây là sáu can cuối cùng. – Cô nói, giọng khàn. – Rút ra đêm hôm đó, hoặc mấy đêm trước đó. Chưa kịp chở đi.

Ông Hạo đứng nhìn cái can méo, cái nắp nứt.

– Cái can này bị giằng co. – Ông nói nhỏ. – Ông cụ nắm nó. Có người giật lại.

Không ai nói gì. Ngoài chòi, gió từ sông thổi vào, lá dừa nước xào xạc.

Ngân nhận một cuộc điện thoại. Cô nghe, rồi quay sang ông Hạo.

– Anh. Bên mình xin được camera của tiệm tạp hóa đầu hẻm nhà thùng. Camera quay ra đường, góc hẹp. Tối hôm đó lúc chín giờ hai mươi hai phút, có một xe máy cũ chạy ra từ hướng nhà thùng, chở sau yên ba can trắng cột dây. Chín giờ ba mươi lăm, chính chiếc xe đó chạy trở vô, chở trống. Chín giờ bốn mươi lăm, nó chạy ra lần nữa, chở ba can. Không thấy mặt người lái. Nhưng biển số đọc được.

– Của ai?

Ngân nhìn chiếc xe máy cũ đang dựng dưới gốc xoài ngoài sân.

– Chiếc đó.

Ông Hạo không nói gì một lúc. Rồi ông nói, chậm, từng câu, như đang xếp từng viên gạch.

– Chừng chín giờ tối, ông cụ chết trong kho chiết. Đụng độ vì mấy can mắm này. Chú Bảy chở ông cụ bằng xe đẩy qua nhà thùng, đặt dưới chân thang thùng mười chín, mở lù cho mắm chảy, kéo núm đồng hồ, vặn tới mười một giờ tám, đập kính, nhét đèn pin vào túi quần. Về kho chiết rửa nền bằng xà bông chanh. Chín giờ hai mươi chở ba can đầu về đây, chín giờ ba mươi lăm quay lại chở ba can sau. Về tắm. Chín giờ bốn mươi... – Ông dừng lại, nhìn Ngân. – Khoan. Chín giờ bốn mươi lăm còn chạy ra từ hẻm nhà thùng, mà ông Út Ba nói chín giờ bốn mươi chú tới đám giỗ.

Ngân lật sổ.

– Đồng hồ camera của tiệm tạp hóa chạy nhanh. Em đã so với giờ chuẩn. Nhanh mười hai phút.

Ông Hạo gật đầu.

– Vậy là chín giờ ba mươi ba. Mười phút sau thì tóc ướt, thơm mùi xà bông, ngồi vô mâm. Mười giờ rưỡi ra đầu ngõ gọi cho thằng cháu, dặn nói mua mắm của thằng Khôi. Mười một giờ đứng dậy, giơ đồng hồ cho cả ba mâm coi.

Cô Chanh đứng nhìn cái can méo. Cô nghĩ tới con Ghe, cả đêm không sủa một tiếng. Nó đã nhìn thấy người đẩy cái xe đẩy chở ông chủ nó đi qua sân, và nó không sủa, vì người đó nó đã quen từ khi nó còn nằm trong cái thúng ghe chài.

– Đại úy. – Cô nói. – Chú Bảy đi bộ ra phía bờ sông từ hồi trưa.

Ông Hạo quay lại nhìn cô.

– Chị nghĩ chú ấy đi đâu?

Cô Chanh không trả lời ngay. Cô nhìn cái chén nước mắm trên bàn thờ thím Bảy, cái chén nhĩ thùng mười chín mà chú Bảy đã rót ra cúng vợ, không biết từ đêm nào.

– Người làm thùng bốn chục năm. – Cô nói. – Có chuyện lớn thì người ta về chỗ cái thùng.

Ông Hạo gật đầu. Ông quay ra cửa, nói với Ngân:

– Em lo phần ở đây. Anh với chị Chanh ra nhà thùng. Đừng ai mặc sắc phục đi theo. Đừng ai hú còi. – Ông dừng lại ở bậc cửa. – Ông ấy không chạy đâu. Ông ấy mà muốn chạy thì đã chạy từ hôm thằng cháu không đi phà.

Trời đã chiều. Mặt trời lặn xuống phía biển, đỏ như cục than hồng, rọi lên mặt sông Dương Đông một vệt sáng dài. Trên đường ra nhà thùng, ông Hạo lái xe rất chậm. Cô Chanh ngồi bên cạnh, hai tay đặt trên đùi.

– Chị Chanh. – Ông nói, không nhìn cô. – Ngày đầu tiên chị nói với tui chị chỉ biết nếm mắm. Còn biết người ta, để tui.

– Tui nhớ.

– Tui sai. – Ông nói. – Biết mắm thì biết người làm mắm.

Xe dừng trước cổng nhà thùng Tư Diệm. Cửa hông khép hờ. Bên trong, trong bóng tối của sáu mươi bốn cái thùng gỗ, có một ngọn đèn pin đang sáng, chiếu một vệt vàng lên cái thang tre dựa vào thùng mười chín.

Trên miệng thùng, có người đang ngồi.

— Hết chương 9 —

Mục lục Vị cơm cháy ở nhà thùng Dương Đông

  1. 1Cái mũi sổ mũi13 phút đọc
  2. 2Cái đồng hồ dừng ở mười một giờ tám phút12 phút đọc
  3. 3Một cạnh thẳng và cứng11 phút đọc
  4. 4Mùi nhựa mới10 phút đọc
  5. 5Thùng tổ không còn là thùng tổ10 phút đọc
  6. 6Sáu mươi bốn chén mắm10 phút đọc
  7. 7Chai mắm từ Sài Gòn10 phút đọc
  8. 8Can thứ chín ở vựa bà Tám Ngự11 phút đọc
  9. 9Cái núm đồng hồ10 phút đọc
  10. 10Vị cơm cháy12 phút đọc

Về truyện này

Vị cơm cháy ở nhà thùng Dương Đông là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →