Chương 8: Can thứ chín ở vựa bà Tám Ngự
Tàu chạy được hai mươi phút thì đại úy Hạo đã ôm cái bao nilon trong lòng, mặt xanh như tàu lá chuối.
Cô Chanh ngồi ghế bên cạnh, lục trong giỏ ra một củ gừng nhỏ, bẻ một lát, đưa cho ông.
– Ngậm đi. Đừng nhai. Nhìn ra xa, đừng nhìn mặt nước gần.
Ông Hạo ngậm lát gừng, nhìn ra xa. Ngoài cửa kính, biển tháng Ba xanh như ngọc, mấy hòn đảo nhỏ lững lờ như mấy con rùa ngủ. Phía sau tàu, đảo Phú Quốc lùi dần thành một vệt xanh thẫm. Phía trước, Rạch Giá còn chưa thấy đâu.
– Mười năm. – Ông nói, giọng nghẹt. – Mười năm tui đi tuyến này.
– Có người đi cả đời không hết say. – Cô Chanh nói. – Ba tui đi ghe ba chục năm, ra khỏi cửa sông là ói.
Ông Hạo cười, rồi nhăn mặt, ôm cái bao nilon chặt hơn.
Họ đi chuyến tàu cao tốc sáu giờ sáng thứ Năm. Chiếc xe tải của Lý Văn Phước, theo dữ liệu Ngân lọc ra, gần như thứ Năm nào cũng đi chuyến phà cùng giờ này từ cảng Bãi Vòng. Hôm nay nó không đi. Từ đêm ông Tư chết tới giờ, nó không đi chuyến nào.
Ngân đã sang Rạch Giá từ chiều qua, phối hợp với công an tỉnh làm giấy tờ. Lúc tàu cập cảng, cô đã đứng chờ sẵn với hai chiến sĩ trẻ và một chiếc xe bảy chỗ.
– Vựa bà Tám Ngự ở sát cảng cá. – Cô nói. – Bà ấy làm mắm ba mươi năm rồi anh. Có tiếng. Giấy tờ đầy đủ. Bên quản lý thị trường kiểm mấy lần không có gì.
– Thì mình kiểm lần nữa.
Vựa bà Tám Ngự là một dãy nhà kho mái tôn nằm sát con kênh dẫn ra cảng cá, mùi mắm, mùi cá khô, mùi dầu máy ghe, mùi bùn kênh trộn vào nhau thành thứ mùi mà cô Chanh nhắm mắt cũng biết mình đang ở Rạch Giá. Trước cổng có hai cái xe ba gác chất can mắm, mấy người đàn ông cởi trần đang khiêng hàng. Thấy xe công an, họ dừng tay.
Bà Tám Ngự ngồi trong một văn phòng nhỏ kê bàn gỗ, tủ sắt, cái bàn thờ Thần Tài có đèn đỏ nhấp nháy. Bà sáu mươi ba tuổi, người tròn trịa, đeo cặp kính lão trễ xuống sống mũi, hai cổ tay đeo hai chiếc vòng cẩm thạch. Bà nghe Ngân đọc quyết định khám xét, không nói một tiếng, chỉ gật đầu, rồi đứng dậy lấy chùm chìa khóa.
– Mấy cô cậu cứ khám. – Bà nói, giọng Rạch Giá đặc, chậm rãi, không chút run. – Tui làm ăn đàng hoàng. Mua có hóa đơn, bán có hóa đơn. Muốn coi sổ sách thì tui đưa.
Kho chính chứa chừng hai trăm cái can nhựa trắng ba mươi lít, xếp thành từng hàng trên mấy tấm ván kê. Mỗi hàng có một tấm bìa giấy cài trên can đầu, ghi tên người giao, ngày nhận, loại mắm. Phần lớn ghi nước mắm loại hai, loại ba, mắm pha. Có một hàng chừng ba mươi can ghi chữ khác: nhĩ, nhà làm, Phú Quốc.
– Cái hàng này của ai giao? – Ông Hạo hỏi.
Bà Tám Ngự nhìn tấm bìa.
– Của thằng Phước. Nó gom nhĩ của mấy nhà làm nhỏ trên đảo, mỗi nhà chút đỉnh, đem về bán cho tui. Tui bỏ mối lại cho mấy chỗ đóng chai ở Sài Gòn.
– Chị mua nhĩ của Phước bao lâu rồi?
– Hai năm. Có giấy tờ. Nó đưa tui giấy mua của từng hộ.
– Giấy mua của từng hộ là ai ký?
Bà Tám Ngự nhún vai.
– Thì mấy hộ đó ký. Tui đâu có ra đảo coi từng hộ. Tui chỉ coi mắm. Mắm tốt thì tui mua.
Ông Hạo nhìn cô Chanh. Cô Chanh đã đi tới cái hàng can đề chữ nhĩ. Cô cúi xuống, ngửi nắp can đầu tiên.
– Cái bà này làm gì vậy? – Bà Tám Ngự hỏi, nhìn cô Chanh như nhìn một người lạ trong nhà mình.
– Chị Chanh là người giám định mắm của bên tui. – Ông Hạo nói.
Bà Tám Ngự bật cười, cái cười khinh khỉnh của người buôn bán lâu năm.
– Giám định mắm bằng mũi hả đại úy? Tui làm nghề ba chục năm, tui nói thiệt đại úy nghe: nhĩ nào cũng giống nhau. Nhĩ Phú Quốc thì cùng là cá cơm, cùng là muối, cùng là thùng gỗ. Ai mà phân biệt được của nhà này với nhà kia.
Cô Chanh không quay lại. Cô nói, giọng bình thường:
– Chị Tám làm nghề ba chục năm mà chị nói vậy, là chị không nói thiệt.
Bà Tám Ngự thôi cười.
Ngân và hai chiến sĩ trẻ mở từng can, rót ra mỗi can một ít vào cái ly nhỏ có đánh số, xếp trên một tấm ván kê. Cô Chanh bắt đầu nếm.
Can thứ nhất. Nhĩ, mười bốn, mười lăm tháng. Ngọt khá. Không có gì đặc biệt.
Can thứ hai. Nhĩ pha. Có người đã pha nhĩ với mắm loại hai cho đủ can. Cô nói ra, Ngân ghi lại. Bà Tám Ngự đứng khoanh tay ở cửa kho, mặt lạnh tanh.
Can thứ ba, thứ tư, thứ năm. Nhĩ thường. Can thứ sáu. Can thứ bảy. Can thứ tám.
Cô nếm can thứ chín, rồi đứng yên.
Cô nếm lại. Súc miệng. Nhai một lát dưa leo cô mang theo trong hộp nhựa. Nếm lại lần thứ ba.
Mặn. Ngọt dài. Rồi tận cuối lưỡi, một chút khói. Một chút giòn.
Cô quay lại nhìn ông Hạo, không cần nói. Ông Hạo gật đầu.
– Can thứ chín. – Cô nói to, cho Ngân ghi và cho bà Tám Ngự nghe. – Nhĩ thùng mười chín nhà thùng Tư Diệm ở Dương Đông. Gài nén tháng Năm năm kia. Có hậu khói như cơm cháy, vì ván trong của thùng bị cháy sém năm tám mươi lăm. Không có thùng nào khác trên đảo có cái hậu này.
Bà Tám Ngự bước vào kho, giật lấy cái ly số chín từ tay Ngân, đưa lên mũi, rồi nếm. Bà đứng im một lúc. Cô Chanh nhìn bà, và thấy trong mắt bà một cái gì đó thay đổi. Không phải sợ. Là nhận ra.
– Bà Tám cũng nếm ra mà. – Cô Chanh nói nhỏ.
Bà Tám Ngự đặt cái ly xuống. Bà cởi cặp kính lão ra, lau lau vào vạt áo, rồi đeo lại.
– Tui có thấy mấy can của thằng Phước có cái mùi khói khói. – Bà nói, giọng thấp hẳn. – Tui tưởng nhà làm nào đó gác can gần bếp. Tui đâu có biết của ai.
– Mấy chỗ đóng chai ở Sài Gòn có biết không?
Bà Tám Ngự im một lúc.
– Có một chỗ. Họ chỉ lấy mấy can có mùi đó. Họ nói khách của họ chịu cái mùi đó. Họ trả giá cao gấp rưỡi.
Ông Hạo không nói gì. Ông chỉ quay sang Ngân:
– Lấy mẫu niêm phong hết ba chục can. Sổ sách mua bán với Lý Văn Phước, hai năm. Tất cả.
Họ tìm được Lý Văn Phước lúc mười một giờ trưa, trong một căn nhà trọ cấp bốn trên con hẻm sau chợ Rạch Giá. Nó đang nằm trên võng, điện thoại úp trên ngực, quanh chân võng là mấy lon bia rỗng. Thấy công an vào, nó không chạy. Nó ngồi dậy, nhìn ông Hạo, và cô Chanh đứng ở cửa thấy rõ ràng gương mặt nó: một gương mặt đã đợi chuyện này mấy ngày nay rồi.
Nó ba mươi ba tuổi, gầy, đen, có một cái thẹo nhỏ ở cằm. Trên cổ tay trái xăm một con cá heo đã mờ.
Lúc đầu nó nói đúng như bà Tám Ngự nói. Nó gom nhĩ của mấy nhà làm nhỏ trên đảo, nhà này một can, nhà kia hai can. Có giấy mua của từng hộ.
– Hộ nào? – Ông Hạo hỏi.
Nó kể ra mấy cái tên. Ngân ghi lại, gọi điện về đảo cho công an phường kiểm tra. Mười lăm phút sau công an phường gọi lại: hai trong năm cái tên đó không có thật, ba cái tên còn lại là những nhà thùng nhỏ đã đóng cửa từ ba bốn năm trước.
Phước ngồi im, nhìn xuống chân.
– Em Phước. – Ông Hạo nói. – Mấy can có mùi khói, em lấy ở đâu?
Phước liếm môi.
– Em mua của thằng Khôi. Cháu nội ông Tư. Nó bán lén ông nội nó.
Cô Chanh đứng ở cửa, thấy tim mình thắt lại một cái. Không phải vì cô tin. Mà vì cô thấy câu đó trơn quá, sẵn quá, như một câu đã được tập dượt.
Ông Hạo không đổi sắc mặt.
– Em quen Khôi bao lâu?
– Hai năm.
– Em liên lạc với nó bằng gì?
– Điện thoại.
Ông Hạo gật đầu, chìa tay ra. Phước ngần ngừ một chút, rồi đưa cái điện thoại cho ông. Ông đưa cho Ngân.
Ngân lướt danh bạ, lướt lịch sử cuộc gọi, lướt tin nhắn. Rồi cô ngẩng lên, lắc đầu.
– Không có số của Mạc Khôi, anh. Không có cuộc gọi nào. Không có tin nhắn nào.
– Còn số nào em gọi thường xuyên nhất?
Ngân lướt thêm.
– Có một số gọi đều đặn, tối thứ Tư hàng tuần, chừng chín, mười giờ đêm, mỗi lần một hai phút. Hai năm nay. Số này lưu tên là Chú.
Ông Hạo nhìn Phước. Phước nhìn xuống chân. Hai bàn tay nó, đặt trên đầu gối, bắt đầu run.
– Ngân. Kiểm tra giùm anh số đó đứng tên ai.
Ngân gọi về tỉnh. Họ ngồi chờ trong căn phòng trọ nóng hừng hực, quạt máy quay đều, mấy con ruồi bu quanh lon bia rỗng. Không ai nói gì. Phước ngồi trên võng, không đung đưa.
Mười phút sau Ngân nhận cuộc gọi. Cô nghe, rồi cúp máy.
– Số đó đăng ký tên Huỳnh Thị Mai. Đã mất năm 2019. Địa chỉ ở xóm Bến Tràm.
Ông Hạo quay sang Phước.
– Huỳnh Thị Mai là ai, em Phước?
Phước ngẩng lên. Mắt nó đỏ, nhưng không có nước mắt.
– Thím Bảy em. Vợ chú Bảy Thình.
Rồi nó gục mặt xuống hai bàn tay.
Nó khai hết, trong căn phòng trọ, giọng đứt quãng. Hai năm trước chú Bảy Thình kêu nó ra đảo, nói chú có phần mắm riêng, ông Tư hứa cho chú từ hồi xưa, giờ chú lấy ra bán, nhờ nó chở đi đất liền. Tối thứ Tư chú gọi, nói mấy can. Khuya thứ Tư chú chở can bằng xe máy ra cái chòi sau nhà chú ở Bến Tràm. Sáng thứ Năm nó lấy can ở chòi, chất lên xe, trộn chung với mấy can mắm loại hai mua của mấy nhà khác cho đúng khai báo, đi phà sáu giờ. Tiền bà Tám Ngự trả, nó giữ một phần mười, còn lại đưa chú.
– Chú nói đó là phần của chú. – Nó nói. – Ông Tư hứa cho chú. Em tưởng vậy thiệt. Em không biết là ăn cắp.
– Đêm ông Tư mất, chú có gọi cho em không?
Phước gật đầu.
– Có. Mười giờ rưỡi tối hôm đó. Không phải tối thứ Tư. Chú nói tuần này nghỉ, từ giờ nghỉ luôn, kêu em đừng ra đảo nữa. Chú nói... – Nó nuốt khan. – Chú nói nếu có ai hỏi thì nói mua của thằng Khôi.
Ông Hạo đứng dậy, đi ra cửa sổ, nhìn ra con hẻm. Cô Chanh thấy lưng ông thẳng như một cây cột.
Mười giờ rưỡi tối. Nửa tiếng trước cái giờ ghi trên mặt đồng hồ vỡ. Lúc đó, theo lời mọi người, ông Tư vẫn còn sống. Vậy mà người cai thùng đã gọi cho cháu, dặn nghỉ luôn từ giờ, dặn nếu ai hỏi thì đổ cho thằng Khôi.
Ông quay lại, nói với Ngân:
– Mai về đảo, anh muốn gặp ông Út Ba, chủ cái đám giỗ. Anh muốn biết chính xác chú Bảy Thình tới lúc mấy giờ, đi về lúc mấy giờ, ngồi đâu, uống gì, có đi ra ngoài lần nào không.
Rồi ông nói thêm, nhỏ hơn, gần như cho riêng cô Chanh nghe:
– Ăn cắp mười mấy tỷ thì giờ tui có đủ. Giết người thì tui chưa có gì. Ông ấy có ba chục người làm chứng ngồi cùng mâm lúc mười một giờ tám phút. Một cái hậu cơm cháy không đưa được ai ra tòa vì tội giết người.
— Hết chương 8 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe