Chương 2: Cái đồng hồ dừng ở mười một giờ tám phút
Chiếc đồng hồ nằm trong túi nhựa niêm phong trên bàn, mặt kính vỡ thành hình mạng nhện, hai cây kim chỉ mười một giờ tám phút.
Đại úy Hạo ngồi nhìn nó đã năm phút. Trung úy Lư Bảo Ngân, cô phụ tá hai mươi bảy tuổi đi cùng ông từ Rạch Giá ra, đứng bên cạnh, chờ ông nói gì đó. Ông không nói. Ông cầm cái túi lên, nghiêng qua nghiêng lại, rồi đặt xuống.
– Đồng hồ cơ, lên dây bằng tay. – Ông nói. – Ông cụ đeo cái này bao lâu rồi?
Út Tiên ngồi đối diện, trong gian nhà trên của căn nhà ống nhìn ra sông. Trên bàn thờ, người ta đã kịp dựng tấm ảnh ông Tư Diệm chụp năm bảy mươi tuổi, áo bà ba trắng, cười hở cái răng bịt vàng.
– Từ hồi ba cưới má. Ba lên dây mỗi sáng, lúc pha trà.
Ông Hạo gật. Ông chỉ cái núm nhỏ ở cạnh đồng hồ, cái núm để lên dây và chỉnh giờ. Nó đang ở vị trí kéo ra, nhô hẳn khỏi vỏ.
– Cái núm này bình thường ông cụ có để nó lòi ra như vầy không?
Tiên nhìn, lắc đầu.
– Con không để ý.
– Ngân, ghi lại. Núm chỉnh giờ ở vị trí kéo ra. – Ông nói, rồi giải thích như cho chính mình nghe. – Té mạnh thì núm có thể bị va bật ra. Cũng có thể không. Mình ghi lại đã.
Cô Chanh ngồi ở góc nhà, trên cái ghế đẩu thấp, hai tay ôm ly trà gừng mà bà Sáu Dừa mới mang qua. Đại úy Hạo đã nhờ cô ngồi lại. Ông nói ông là dân Huế, không biết một chữ nào về nghề mắm, người ta nói lù, nói rút, nói gài nén, nói nhĩ, nói đạm, ông nghe như nghe tiếng Miên. Cô Chanh cười, nói tiếng Miên tui biết, mấy cái đó không phải tiếng Miên. Ông cũng cười, lần đầu tiên từ sáng. Rồi ông nói nghiêm túc là ông cần một người không phải người nhà, không có quyền lợi gì ở đây, ngồi nghe giùm ông.
Cô đã ngồi đó suốt hai tiếng, nghe ông hỏi từng người.
Đầu tiên là anh Hai Lâm. Năm mươi hai tuổi, bụng to, áo thun có cổ in tên homestay của anh ở phía bắc đảo. Anh khóc to hơn ai hết, rồi nín nhanh hơn ai hết, rồi nói nhiều hơn ai hết. Anh nói ba anh già rồi, chân yếu, anh đã nói biết bao nhiêu lần đừng có leo lên miệng thùng ban đêm, ba không nghe. Anh nói tối qua anh ở nhà với vợ từ tám giờ, coi phim, mười giờ ngủ. Anh nói ba anh đâu có kẻ thù nào, ai mà hại ba anh.
Ông Hạo hỏi về chuyện công ty ở Sài Gòn muốn mua nhà thùng. Anh Hai Lâm khựng lại nửa giây.
– Có. Bên đó muốn mua cả thương hiệu lẫn miếng đất này. Ba không chịu. Mà ba không chịu thì thôi, có ai ép đâu đại úy.
– Họ trả bao nhiêu?
– Cái đó... chưa chốt.
– Chừng bao nhiêu?
Anh Hai Lâm liếc qua Tiên.
– Đất mặt sông, gần bốn ngàn mét. Chừng chín mươi tỷ.
Tiên quay mặt đi. Cô Chanh thấy hàm cô bạnh ra.
Người thứ hai là thằng Khôi. Hai mươi bốn tuổi, học công nghệ thực phẩm trên Sài Gòn, về đảo hai năm nay phụ ông nội làm khâu đóng chai, rồi mở trang bán hàng trên mạng. Nó gầy, đeo kính, ngồi co hai chân lên ghế như con nít, hai tay đan nhau tới trắng bệch các đốt.
Nó nói tối qua nó ăn cơm ở nhà ba má nó, chín giờ về phòng, ngồi trả lời khách tới mười giờ rồi ngủ. Không đi đâu hết.
– Em ngủ ở nhà ba má em, hay ở đây?
– Ở nhà ba má. Bên kia sông.
– Phòng em có cửa riêng ra ngoài không?
Khôi đẩy gọng kính.
– Có. Mà em không có đi đâu hết.
Ông Hạo gật đầu, không hỏi tiếp, chỉ viết một dòng ngắn vào cuốn sổ tay. Cô Chanh để ý ông ghi rất ít. Ông nhìn nhiều hơn ghi.
Người thứ ba là chú Bảy Thình. Chú sáu mươi mốt tuổi, người nhỏ thó nhưng hai cánh tay cuồn cuộn, da đen bóng như được thoa dầu rái. Chú làm cai thùng cho nhà này từ năm hai mươi tuổi. Chú ngồi xuống ghế mà như không dám ngồi, lưng thẳng, hai tay để trên đùi, mắt nhìn tấm ảnh trên bàn thờ.
– Chú làm cho ông Tư bao lâu rồi?
– Bốn mươi mốt năm.
– Chú biết nhà thùng này hơn ai hết.
– Dạ. Tui biết từng cái thùng. Thùng nào cá mẻ nào, gài nén bữa nào, rút bữa nào.
Ông Hạo hỏi tối qua chú ở đâu. Chú Bảy Thình trả lời không cần nghĩ.
– Sáu giờ chiều tui còn ở nhà thùng, phụ ông Tư khóa cửa. Ổng dặn tui sáng nay cô Chanh qua nếm, kêu tui ra sớm khiêng thang, mở lù giùm. Rồi tui về nhà, ăn cơm, tắm rửa. Chín giờ mấy tui qua đám giỗ nhà ông Út Ba ở xóm dưới. Ngồi tới mười hai giờ khuya mới về.
– Ông Tư có nói vì sao kêu cô Chanh tới nếm hết không?
Chú Bảy Thình lắc đầu.
– Ổng nói ổng muốn coi lại mắm trước khi bán. – Chú nuốt khan. – Tui tưởng ổng tính bán thiệt. Tui buồn quá, về không nói chuyện với ai.
Ông Hạo im một chút.
– Ổng có nói với chú là trong nhà có người ăn cắp không?
Chú Bảy Thình ngẩng lên, nhìn ông Hạo, rồi nhìn cô Chanh, rồi nhìn xuống.
– Không. Ổng không nói vậy với tui.
– Chú có thấy cái gì lạ ở nhà thùng mấy tháng nay không?
– Không có gì lạ. Mắm vẫn vậy. Thùng vẫn vậy. – Chú dừng lại. – Chỉ có ổng là lạ. Mấy tháng nay ổng hay đi một mình trong nhà thùng ban đêm, đứng nhìn mấy cái thùng hoài. Tui hỏi, ổng nói nhớ bà Tư.
Cô Chanh nhìn chú Bảy Thình. Hai mắt chú đỏ hoe từ sáng tới giờ chưa hết. Chú là người duy nhất từ sáng tới giờ không nói câu nào về chuyện bán đất.
Ông Hạo hỏi thêm vài câu về cái thang. Cái thang tre dựa vào thùng mười chín thường để ở đâu, ai hay leo. Chú Bảy Thình nói thang để ở góc, chỉ chú với ông Tư hay leo, mà ông Tư thì mấy năm nay ít leo lắm vì chân yếu. Muốn coi mặt thùng thì ổng kêu chú.
– Vậy tối qua ông cụ leo lên thùng mười chín làm chi?
Chú Bảy Thình lắc đầu, môi run.
– Tui không biết. Tui mà biết tui đã không đi đám giỗ.
Sau khi chú ra ngoài, ông Hạo quay sang Ngân.
– Hiện trường người ta tìm thấy đèn pin ở đâu?
Ngân lật sổ.
– Trong túi quần bên phải của nạn nhân. Đèn pin loại nhỏ, cầm tay. Công tắc ở vị trí tắt. Pin còn tốt.
Ông Hạo gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn.
– Đèn trong nhà thùng tối qua có bật không?
– Lúc chị Tiên tới thì tắt. Chị Tiên nói công tắc đèn ở cửa chính, mà cửa chính khóa. Ông cụ vô bằng cửa hông.
Ông Hạo không nói gì, chỉ nhìn cô Chanh. Cô hiểu cái nhìn đó. Một ông già bảy mươi tám tuổi, chân yếu, vô một nhà thùng tối thui, leo một cái thang tre lên miệng cái thùng cao gần bốn thước. Ông leo bằng hai tay. Đèn pin nằm trong túi quần, đã tắt.
Vậy thì ông leo trong bóng tối.
Hoặc là ông không leo.
Cô không nói ra. Cô chưa đủ chắc. Cô cũng thấy ông Hạo không nói ra.
Người thứ tư là Tiên, lần thứ hai. Ông Hạo hỏi lại chuyện bữa cơm tối. Tiên nói lại y như sáng nay: ba ăn cơm với cô, ăn xong ba ra hiên uống trà, chín giờ cô đi ngủ. Ông Hạo hỏi ba có nói gì đặc biệt không. Tiên nói không. Ông Hạo hỏi hai cha con có lời qua tiếng lại gì không. Tiên nói không, giọng hơi cao lên một chút ở chữ không.
Ông Hạo cảm ơn, cho cô về phòng nghỉ.
Còn lại bà Sáu Dừa.
Bà Sáu Dừa không cần ai hỏi. Bà đã ngồi chầu ở hiên từ sáng, mang qua ba nồi nước, hai ấm trà, một thau bánh canh cho mấy cậu công an, và đã kể cho ít nhất mười người nghe những gì bà biết. Bà ngồi xuống ghế, chưa đợi ông Hạo mở miệng đã nói.
– Đại úy à, tui ở sát vách nhà này ba chục năm. Ông Tư với tui là chỗ hàng xóm tắt lửa tối đèn. Có chuyện gì nhà này tui biết hết.
– Dạ, vậy cô cho con hỏi. Tối qua cô có nghe gì bên nhà thùng không?
– Không nghe gì hết. Mà đó mới là chuyện lạ.
Ông Hạo nghiêng đầu.
– Lạ sao cô?
Bà Sáu Dừa chỉ ra ngoài hiên, nơi con Ghe đang nằm dài dưới gầm bàn, đầu gác lên hai chân trước, mắt nhìn ra cổng.
– Con chó đó. Nó dữ lắm. Người lạ đi ngang cổng ban đêm là nó sủa banh xóm. Thằng giao gas đi ngang lúc tám giờ tối mà nó sủa muốn bể cổ họng. Tối qua tui ngồi xem cải lương tới mười một giờ, cửa sổ mở, nhà thùng cách có bức vách. Tui không nghe nó sủa một tiếng.
Ông Hạo nhìn con chó. Cô Chanh cũng nhìn. Con Ghe như biết người ta đang nói về nó, ngẩng đầu lên, rồi lại gục xuống.
– Nó có sủa người trong nhà không cô?
– Người trong nhà thì không. Ông Tư, con Tiên, thằng Lâm, thằng Khôi, thằng Thình, nó biết hết. Mấy người đó đi qua nó vẫy đuôi.
– Còn người làm công khác?
– Nhà này giờ có ba đứa làm theo mùa, mùa cá mới tới. Tháng này hết cá rồi, chỉ còn thằng Thình.
Ông Hạo gật đầu. Ông viết một dòng.
– Còn chuyện gì khác cô muốn nói với con không?
Bà Sáu Dừa nhìn quanh, rồi hạ giọng, dù trong nhà không có ai ngoài cô Chanh và Ngân.
– Có. Mà tui không biết có nên nói không. Tui thương con Tiên lắm. Con nhỏ hiếu thảo. Ở vậy nuôi cha.
– Cô cứ nói. Nói đúng những gì cô nghe, không thêm không bớt.
Bà Sáu Dừa xoa xoa hai bàn tay lên đầu gối.
– Tối qua chừng bảy giờ kém, tui ngồi lặt rau ngoài sân sau. Bên này hai cha con nó cãi nhau. Lớn tiếng lắm. Ba chục năm nay tui chưa nghe con Tiên lớn tiếng với ba nó lần nào.
– Cãi chuyện gì?
– Tui không nghe hết. Tui chỉ nghe con Tiên nói: ba đừng có đổ cho nó, nó còn nhỏ. Rồi ông Tư nói: tao chưa nói là ai hết, mày bao che cái gì. Rồi con Tiên khóc. Rồi ông Tư đập bàn cái rầm. Rồi im.
Trong gian nhà trên, không ai nói gì một lúc lâu. Ngoài sông có tiếng ghe máy chạy ngang, tiếng ai đó rao chè đậu đen.
Cô Chanh nhìn về phía cửa buồng, nơi Tiên vừa đi vào. Cánh cửa khép hờ. Cô nhớ cái nhìn của Tiên sáng nay, khi thằng Khôi xuất hiện ở cổng. Một giây, rồi quay đi.
Ông Hạo cảm ơn bà Sáu Dừa, tiễn bà ra tận hiên. Lúc quay vô, ông không ngồi lại bàn. Ông đứng nhìn tấm ảnh ông Tư Diệm trên bàn thờ, hai tay đút túi quần.
– Chị Chanh. – Ông nói. – Chị biết nhà này lâu chưa?
– Tui tới nếm mắm cho ông Tư chừng mười năm. Mỗi năm vài lần.
– Chị có biết nó là ai không? Cái đứa còn nhỏ mà chị Tiên bao che.
Cô Chanh im. Cô biết. Cả đảo này có ai mà không đoán ra. Nhưng cô cũng biết cái giá của một câu đoán nói ra trong căn nhà có người chết.
– Tui không biết, đại úy. Tui chỉ biết nếm mắm.
Ông Hạo quay lại nhìn cô, rồi cười nhẹ, cái cười mỏi mệt của người say sóng chưa hết.
– Vậy thì chị nếm giùm tui. Còn biết người ta, để tui.
Ông cầm cái túi đựng đồng hồ lên lần nữa, soi ra ánh sáng cửa sổ.
Mười một giờ tám phút. Giờ đó chú Bảy Thình đang ngồi đám giỗ, có cả xóm làm chứng. Giờ đó anh Hai Lâm nói đang ngủ bên vợ. Giờ đó thằng Khôi nói đang ngủ trong căn phòng có cửa riêng ra ngoài. Giờ đó Út Tiên nói đang ngủ, cách nhà thùng có một khoảng sân.
Ông Hạo đặt cái đồng hồ xuống, nói với Ngân:
– Em xin giùm anh kết quả khám nghiệm sơ bộ, càng sớm càng tốt. Anh cần biết ông cụ đập đầu vô cái gì.
Ngân gật. Cô Chanh ngồi yên trên ghế đẩu. Ly trà gừng trong tay cô đã nguội ngắt. Cô đưa lên mũi theo thói quen, và lần đầu tiên từ hôm kia, cô ngửi thấy một chút cay của gừng, một chút ngọt của đường thẻ, mỏng manh như sợi chỉ.
Mũi cô đang thông dần.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe