Chương 7: Chai mắm từ Sài Gòn
– Ông nội cho em hai chục lít. – Thằng Khôi nói. – Có một lần. Tháng Bảy năm ngoái.
Mười giờ đêm, phòng làm việc ở trụ sở. Ngoài cửa sổ, mấy con thiêu thân đập cánh vào bóng đèn hành lang. Đại úy Hạo ngồi đối diện thằng Khôi, giữa hai người là một ly trà đá đã tan hết đá và cái điện thoại của nó mở trang bán hàng, dòng sản phẩm nhĩ thùng tổ. Anh Hai Lâm ngồi ở băng ghế ngoài hành lang. Ông Hạo đã cho anh ngồi đó, cửa mở, để anh nghe được con mình nói gì mà không chen vào được.
– Kể tui nghe.
Thằng Khôi kể. Giọng nó đã bớt run so với hôm qua. Có lẽ một đêm ngủ ở nhà sau khi khai xong đã làm nó bình tĩnh lại, hoặc có lẽ nó đã hết sợ, chỉ còn mệt.
Tháng Bảy năm ngoái nó năn nỉ ông nội cho nó bán thử một dòng nhĩ thật cao cấp trên mạng, để coi người thành phố có chịu bỏ tiền triệu ra mua một chai mắm không. Ông nội cằn nhằn ba ngày, rồi một buổi sáng tự tay rút hai chục lít nhĩ thùng mười chín vào cái lu sành nhỏ, đưa cho nó, nói: bán đi, mà bán cho người biết ăn, đừng bán cho người mua về chụp hình. Nó đóng được bốn chục chai năm trăm ml, đặt tên là nhĩ thùng tổ, viết mô tả theo đúng lời ông nội kể: hậu khói nhẹ như cơm cháy. Ba tuần bán hết. Có người nhắn hỏi mua thêm.
– Em xin ông nội thêm. Tháng Mười. Ông nội ra thùng mười chín rút một ly, nếm. Rồi ông nội đứng im. Lâu lắm. Em hỏi sao vậy ông, ông nói không có gì, thôi để sau. Rồi ông nội đổ ly mắm đó xuống rãnh.
Ông Hạo không ghi, chỉ nhìn nó.
– Ông nội đổ mắm xuống rãnh. Ông cụ có hay làm vậy không?
– Không bao giờ. Ông nội nói rớt một giọt nhĩ là tội với con cá.
– Sau đó thì sao?
– Sau đó ông nội không cho em nữa. Em hỏi mấy lần, ông nói thùng đó chưa tới ngày. Em thấy kỳ, vì tháng Bảy ông nói thùng đó tới ngày rồi. Nhưng em không dám hỏi.
– Còn trang bán hàng thì vẫn để dòng nhĩ thùng tổ?
Thằng Khôi cúi mặt.
– Dạ. Em để đó cho đẹp trang. Có người đặt thì em gửi nhĩ thùng ba. – Nó ngẩng lên. – Em biết là không đúng. Em xin lỗi.
Ông Hạo gật đầu. Cái chai mà Ngân đặt mua đã tới Rạch Giá sớm hơn hẹn, ngay chiều nay, người ở tỉnh đã mở ra, mang một ít qua cho cô Chanh bằng chuyến tàu chiều. Cô nếm ngay trên bến, trước mặt Ngân. Nhĩ thùng ba, mười bốn tháng, ngọt thanh, không có khói. Cô nói thằng Khôi làm vậy là gian với khách, nhưng mà nhĩ thùng ba vẫn là nhĩ tốt, người mua không thiệt bao nhiêu.
– Đêm hôm đó em vô kho chiết lúc mấy giờ?
– Mười giờ rưỡi. Có hơn chút.
– Kể tui nghe từ lúc em mở cửa.
Thằng Khôi nhắm mắt lại, như người cố nhìn lại một tấm hình.
– Cửa khóa. Em mở bằng chìa của em. Đèn trong kho tắt. Em bật đèn. Nền nhà ướt, ướt hết, còn đọng nước trong rãnh. Mùi xà bông chanh. Em nghĩ ông nội mới rửa, vì ông nội nghe cô Chanh tới thì muốn kho sạch. Mấy chai của em để trên kệ thứ hai, em gom bỏ vô thùng giấy. Hai chục chai. Rồi em đi ra.
– Em có thấy gì khác không? Cái gì không nằm chỗ cũ?
Thằng Khôi nhíu mày.
– Cái xe đẩy. Bình thường nó dựng ngoài hiên kho, sát cửa. Bữa đó nó ở trong, trong góc. Ướt. – Nó dừng lại. – Em đi ngang thấy bánh xe có mùi mắm. Mắm non. Tanh tanh. Em nghĩ ông nội mới chở chượp đi đâu đó.
– Mắm non.
– Dạ. Em học thực phẩm mà anh. Mắm non với nhĩ em phân biệt được.
Ông Hạo dựa lưng ra ghế.
– Rồi em gọi cho cô Út.
– Dạ. Em nói con dọn rồi, cô đừng lo. Rồi em về ngủ.
– Em có đi ngang nhà thùng không?
– Có. Cửa hông khép. Đèn tắt. Con Ghe nằm ngoài hiên nhà ông nội. Nó thấy em thì vẫy đuôi.
Ông Hạo nhìn nó một lúc lâu. Ngoài hành lang, anh Hai Lâm đã đứng dậy, tựa vai vào khung cửa, mặt xám ngắt.
– Em Khôi. – Ông Hạo nói. – Nếu đêm đó em vô nhà thùng, em đã thấy ông nội.
Thằng Khôi gật đầu. Nước mắt nó chảy ra, không có tiếng.
– Em biết. Em nghĩ hoài. Em đi ngang có mấy bước.
Ông Hạo không nói gì nữa. Ông cho nó về.
Lúc tiễn hai cha con ra cửa, ông nghe anh Hai Lâm nói với thằng con, giọng khàn:
– Mai ba với con ra nhà thùng phụ cô Út.
Đó là câu đầu tiên trong suốt bốn ngày mà cô Chanh, về sau nghe ông Hạo kể lại, thấy anh Hai Lâm nói chữ nhà thùng không kèm chữ bán.
Sáng hôm sau, ông Kiều Thành Lộc tới trụ sở lúc chín giờ, mặc áo sơ mi trắng, mang theo một cái máy ghi âm nhỏ và một cái chai thủy tinh màu hổ phách, dán nhãn chữ vàng, bọc trong hộp gỗ lót nhung.
Ông Lộc không còn cái vẻ ngọt như mía lùi ở hội chợ năm ngoái. Ông ngồi xuống, xin lỗi ba lần trong năm phút. Rồi ông bật máy.
Đoạn ghi âm dài bốn mươi phút. Phần lớn là ông Lộc nói. Ông nói về công ty, về thương hiệu, về thị trường, về giá. Ông Tư thỉnh thoảng ừ hử, thỉnh thoảng cười, thỉnh thoảng nói trời đất. Rồi tới phút ba mươi mốt, ông Tư nói một câu dài, giọng chậm lại, rõ từng chữ.
Tôi không bán đâu cậu Lộc. Cậu đừng mất công. Mà cậu nói tôi mới biết, mắm của tôi ra tới Sài Gòn trước cả tôi. Tôi biết ai đang bán mắm của tôi rồi. Mai tôi kêu người nếm cho chắc, rồi tôi tính.
Ông Hạo cho tua lại hai lần. Cô Chanh ngồi ở góc phòng, nghe giọng ông Tư lần cuối, thấy cổ họng nghẹn lại.
– Cậu nói tôi mới biết. – Ông Hạo nhắc. – Ông nói gì với ông cụ mà ông cụ mới biết?
Ông Lộc đẩy cái hộp gỗ tới trước.
– Cái này. Tháng Mười một năm ngoái tôi mang ra cho ông cụ. Đây là chai thứ hai, cùng lô.
Ông giải thích. Công ty ông đang tìm mua một thương hiệu mắm truyền thống ở Phú Quốc để làm dòng cao cấp. Trước khi đi đàm phán, ông cho người đi mua hết mấy dòng nước mắm cao cấp đang bán ở Sài Gòn để so sánh. Một hãng nhỏ ở Sài Gòn mới ra một dòng nhĩ Phú Quốc thùng gỗ, đóng chai đẹp, bán cho nhà hàng sang, giá gần hai triệu một chai năm trăm ml. Ông Lộc mang chai đó ra, mời ông Tư nếm, định nói với ông cụ là nếu bán thương hiệu cho công ty ông, mắm nhà ông sẽ được đóng chai như vầy.
– Ông cụ nếm. – Ông Lộc nói. – Rồi ông cụ không nói gì. Ông cụ đứng dậy đi ra sau nhà, nửa tiếng mới quay lại. Mắt đỏ. Tôi tưởng ông cụ cảm động. Tôi ngu. – Ông lắc đầu. – Tôi không biết là ông cụ đang nếm mắm của chính ông cụ.
Ông Hạo quay sang cô Chanh. Không cần nói.
Ngân đeo găng tay mở hộp gỗ, rút nút chai, rót ra một cái muỗng sứ. Cô Chanh đứng dậy, đi tới, nhận cái muỗng.
Màu cánh gián đậm. Nghiêng muỗng, mắm chảy chậm, để lại một lớp mỏng như dầu trên mặt sứ. Ngửi. Mặn trước, ngọt sau. Và rồi, như một người quen bước vào phòng, cái mùi ấy.
Cô nếm.
Mặn, rồi ngọt, ngọt dài, ngọt dai, rồi tận cuối lưỡi, một chút khói. Một chút giòn. Một miếng cơm cháy dưới đáy nồi gang.
Cô đặt muỗng xuống. Hai tay cô run.
– Thùng mười chín. – Cô nói. – Không phải thùng nào khác. Cả cái đảo này chỉ có một thùng có cái hậu này.
Ông Lộc nhìn cô, rồi nhìn ông Hạo, như không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ông Hạo cầm cái chai lên, đọc nhãn. Tên hãng. Địa chỉ ở Sài Gòn. Số lô.
– Ông Lộc, ông có biết hãng này lấy mắm ở đâu không?
– Tôi có hỏi. Người ta nói lấy từ một vựa ở Rạch Giá, vựa đó gom nhĩ của mấy nhà làm thủ công trên đảo. Tên vựa thì người ta không nói.
Ông Hạo đặt chai mắm xuống.
– Ngân.
Ngân đã đứng dậy, cầm sẵn một xấp giấy.
– Anh, em lọc xong danh sách phà rồi. Hai năm nay, có một chiếc xe tải nhỏ đi phà sáu giờ sáng từ cảng Bãi Vòng về Rạch Giá, gần như thứ Năm nào cũng đi. Khai hàng là nước mắm loại hai, từ mười lăm tới hai mươi can ba mươi lít. Chỉ đi một chiều, chiều về không chở mắm. Có chín mươi bốn chuyến.
– Chín mươi bốn chuyến, mỗi chuyến hai chục can. – Ông Hạo nhẩm. – Năm sáu chục ngàn lít, nếu can nào cũng đầy.
– Có chuyến khai mười lăm, có chuyến hai mươi. Cộng hết chừng bốn, năm chục ngàn lít. Giấu ba chục ngàn lít nhĩ trong đó thì dư sức.
– Xe đứng tên ai?
Ngân lật tờ giấy.
– Lý Văn Phước. Ba mươi ba tuổi. Hộ khẩu ở xóm Bến Tràm, nhưng hai năm nay ở Rạch Giá. Làm nghề chạy xe chở hàng.
Ông Hạo ghi cái tên vào sổ. Cô Chanh ngồi im, nhưng có cái gì đó trong cái tên làm cô thấy lạnh gáy. Lý Văn Phước. Cô đã nghe họ Lý đó ở đâu rồi, gần đây thôi.
Ông Lộc xin phép về, hứa sẽ ở lại đảo cho tới khi cần. Ông Hạo tiễn ông ra cửa, cảm ơn, rồi dặn đừng nói chuyện cái chai với ai.
Lúc ông Hạo quay vào, cô Chanh vẫn ngồi yên ở góc phòng.
– Đại úy. – Cô nói. – Tui hỏi đại úy một chuyện. Chú Bảy Thình họ gì?
Ông Hạo dừng lại giữa phòng. Ông lật sổ tay, lật ngược về những trang đầu, trang ngày thứ nhất, cái ngày ông ngồi trong gian nhà trên hỏi từng người một.
Lý Văn Thình. Sáu mươi mốt tuổi. Cai thùng. Bốn mươi mốt năm.
Ngân đứng sau lưng ông, cũng đã nhìn thấy. Cô lặng lẽ cầm điện thoại đi ra ngoài.
Mười lăm phút sau cô quay vào.
– Em gọi công an phường. Lý Văn Phước là con của anh ruột chú Bảy Thình. Ba nó mất sớm. Chú Bảy nuôi nó từ năm nó mười hai tuổi.
Ông Hạo không nói gì. Ông đứng nhìn chai mắm màu hổ phách trên bàn, cái nhãn chữ vàng, cái nút chai bọc giấy bạc.
Rồi ông nói, rất nhỏ, như nói với chính mình:
– Nhưng mười một giờ tám phút đêm đó, chú Bảy Thình đang ngồi đám giỗ, có ba chục người làm chứng.
— Hết chương 7 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe