AI Truyện
Thẻ đèn số ba trăm mười tám

💞 Ngôn tình

Phòng đèn của bà Lụa

Thẻ đèn số ba trăm mười tám · Chương 7/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Phòng đèn của bà Lụa

Quán nước của bà Lụa chỉ là một cái lán lợp lá cọ, dựng sát bức tường rào bê tông của mỏ, ngay cạnh cổng sau. Bốn cái ghế gỗ thấp, một cái chõng tre, một ấm chè xanh to bằng cái thùng, mấy lọ kẹo lạc, một bó điếu cày dựng ở góc. Ba giờ chiều, quán vắng tanh. Bà Lụa ngồi trên chõng, đeo kính lão, đang khâu lại cái quai túi.

Bà sáu mươi sáu tuổi, người to, giọng ồm, ngày xưa là nỗi sợ của cả mỏ. Thằng nào trả đèn bẩn, bà mắng. Thằng nào quên bình tự cứu, bà đuổi về. Thằng nào lên ca mà người còn sặc mùi rượu, bà gọi thẳng quản đốc. Ba mươi năm giữ phòng đèn, bà thuộc tên, thuộc số đèn, thuộc cả tên vợ con của gần hết thợ lò trong mỏ.

Bây giờ phòng đèn không còn như xưa. Người ta lắp máy quẹt thẻ từ, lắp bảng điện tử, thợ vào ca chỉ cần quẹt cái thẻ nhựa, màn hình tự hiện tên, tự đếm người dưới lò. Cái bảng gỗ có những cái móc sắt nhỏ, những cái thẻ đồng sáng bóng, người ta tháo xuống từ năm bà Lụa về hưu, đem cất vào kho. Bà Lụa bảo, cái máy nó đếm đúng hơn tao, nhưng nó không biết đứng chờ.

Thợ trẻ bây giờ ra quán bà uống chè, không mấy đứa biết bà từng là ai. Thợ già thì vẫn gọi bà là bà Lụa đèn, và vẫn sợ bà như sợ quản đốc.

Bà ngẩng lên khi thấy tôi. Bà nhìn cái chân trái của tôi, rồi nhìn lên mặt tôi.

– Thằng ba trăm mười tám. – Bà nói. – Lâu lắm mới thấy mày ra đây.

– Cháu chào bà.

– Ngồi xuống. Uống chè.

Tôi ngồi xuống cái ghế gỗ thấp. Bà rót cho tôi một bát chè xanh đặc sánh, nóng bỏng tay. Tôi cầm bát chè, không uống.

– Bà ơi. – Tôi nói. – Cháu muốn hỏi bà chuyện bốn ngày năm ấy.

Bà Lụa đặt cái túi đang khâu xuống chõng. Bà tháo kính lão ra, gấp lại, bỏ vào túi áo. Bà nhìn tôi.

– Con Chinh nó về rồi phải không? – Bà hỏi.

– Dạ.

– Nó nói gì với mày?

– Cô ấy không nói gì cả. – Tôi nói. – Cô ấy bảo cô ấy đã hứa với một người. Cô ấy bảo người ấy còn sống.

Bà Lụa thở dài. Một tiếng thở dài rất dài, như một cái bễ xì hơi. Bà với tay lấy cái điếu cày, nhồi thuốc, châm lửa, rít một hơi, nhả khói. Khói thuốc lào bay ra ngoài lán, tan vào nắng chiều.

– Tao chờ mười một năm rồi. – Bà nói. – Tao cứ nghĩ thể nào cũng có ngày mày ra đây hỏi. Có ngày tao nghĩ hay là tao tự đi nói với mày. Rồi tao lại nghĩ, việc của người ta, mình là ai mà nói.

Bà đặt cái điếu cày xuống.

– Đêm bục nước, tao đang trực. – Bà bắt đầu. – Mười một giờ đêm còi hú. Mười hai giờ cả cái mỏ này kéo tới. Vợ con thợ đứng chật sân. Ban chỉ huy cứu hộ họp ngay trong phòng đèn, vì phòng đèn có cái bảng thẻ đồng, nhìn vào là biết ai còn ở dưới. Ba cái thẻ. Hai trăm linh năm của thằng Vững. Ba trăm mười tám của mày. Bốn trăm hai mươi mốt của thằng Hiếu.

Tôi nhớ lại cái bảng gỗ cạnh cửa phòng đèn. Những cái móc sắt nhỏ xếp hàng. Những cái thẻ đồng sáng bóng.

– Con Chinh đứng trước cái bảng ấy. – Bà Lụa nói. – Đứng suốt đêm đầu. Tao bảo nó ngồi, nó không ngồi. Tao bảo nó về, nó không về. Nó đứng đấy, nhìn ba cái thẻ đồng, không khóc, không nói. Sáng hôm sau, ban chỉ huy đưa ra phương án. Họ đoán ba đứa chạy về phía giếng, bị nước đuổi kịp ở khúc lò vận tải. Họ định bơm nước, đào từ phía giếng vào.

Bà ngừng lại, nhìn tôi.

– Con Chinh đi thẳng vào giữa phòng họp. Tao không cản kịp. Nó cầm một cục phấn, quỳ xuống giữa nền xi măng phòng đèn, vẽ. Vẽ một cái lò. Vẽ chỗ rẽ. Vẽ một cái ngách cao hơn nền lò chính hai mét. Rồi nó nói với ông trưởng ban chỉ huy, họ không ở chỗ giếng đâu, họ ở đây. Anh Thảnh ăn cơm ở đây mỗi ca. Nước lên, anh ấy sẽ chạy vào đây.

Tôi đặt bát chè xuống. Tay tôi run tới mức nước chè sóng ra ngoài.

– Người ta không tin nó. – Bà Lụa nói. – Một con bé phát đèn hai mươi hai tuổi, đòi chỉ đạo cứu hộ. Ông trưởng ban bảo nó ra ngoài. Nó không ra. Nó quỳ ở đấy, cạnh cái hình vẽ phấn, nói đi nói lại. Tao đứng sau lưng nó. Tao nói với ông trưởng ban, tôi giữ phòng đèn hai mươi lăm năm, tôi chưa thấy con bé này nói sai cái gì bao giờ. Ông kỹ sư già trắc địa tên Đạt, giờ chết rồi, ông ấy cúi xuống nhìn cái hình vẽ, rồi đi lục bản đồ cũ. Bản đồ những năm chín mươi. Có một cái lò dọc vỉa cũ, bỏ từ lâu, đúng chỗ con bé vẽ.

– Rồi sao hả bà?

– Rồi họ cãi nhau một ngày rưỡi. Đào từ phía giếng thì chắc ăn, nhưng xa. Đào từ phía con bé chỉ thì gần, nhưng phải xuyên qua khúc sập, nguy hiểm, mà lỡ không có ai ở đấy thì mất thời gian. Sang ngày thứ ba, ông Đạt thuyết phục được họ chia làm hai mũi. Một mũi đào về phía cái lò cụt. – Bà Lụa nhìn tôi. – Mũi ấy tìm thấy chúng mày.

Tôi ngồi im. Trong đầu tôi vang lên tiếng gõ năm nào. Cộc. Cộc cộc. Cộc. Và câu nói lúc người ta khiêng tôi lên cáng. Đúng chỗ con bé phòng đèn nói. Đúng y chỗ.

– Mày được cứu là nhờ nó. – Bà Lụa nói. – Thằng Hiếu được cứu là nhờ nó. Cả mỏ biết. Mỗi mày không biết.

– Sao không ai nói với cháu?

– Vì nó xin. – Bà Lụa nói. – Nó đi từng người trong ban chỉ huy, xin đừng nhắc tên nó với mày. Người ta nghĩ con bé ngại. Tao thì biết không phải vì ngại.

Bà rít thêm một hơi thuốc lào. Lần này lâu hơn.

– Tối ngày thứ ba. – Bà nói, giọng chùng xuống. – Mẹ mày tới phòng đèn.

Tôi ngẩng lên.

– Mẹ mày ngồi ngoài sân suốt ba ngày, cạnh mấy bà vợ thợ khác. Không ăn, không ngủ. Tối ngày thứ ba, sau khi ban chỉ huy quyết đào theo hướng con bé chỉ, mẹ mày đi vào. Tao đang ở phòng trong, sắp lại mấy cái đèn hỏng. Phòng đèn vắng, chỉ có con Chinh đứng trước cái bảng. Mẹ mày đi tới, đứng cạnh nó. Hai người đứng nhìn ba cái thẻ đồng.

Bà Lụa im lặng một lúc lâu.

– Tao không cố ý nghe. – Bà nói. – Nhưng phòng đèn vắng, tiếng nói vọng.

– Mẹ cháu nói gì?

– Mẹ mày nói, bố nó chết vì cái mỏ này. Nó ở lại cái mỏ này là vì mày. Nó không đi Hải Phòng là vì mày. – Bà Lụa nhắc lại từng chữ, chậm rãi, như thể những chữ ấy đã nằm trong đầu bà mười một năm, chỉ chờ được nói ra. – Rồi mẹ mày nói, nếu nó sống mà lên được, mày buông nó ra. Để nó đi. Đi Hải Phòng, đi đâu cũng được, miễn là xa cái lò này. Tao chỉ xin mày một điều đấy thôi. Mày hứa với tao.

Bát chè trong tay tôi nguội ngắt từ lúc nào.

– Con Chinh quỳ xuống. – Bà Lụa nói. – Quỳ ngay trước cái bảng thẻ đồng. Nó nói, cháu hứa. Miễn anh ấy về, cháu hứa. Mẹ mày đứng đấy một lúc, rồi đi ra. Con Chinh quỳ ở đấy tới nửa đêm.

Tôi nhắm mắt lại. Tôi thấy cái nền xi măng phòng đèn, thấy cái hình vẽ phấn, thấy một cô gái hai mươi hai tuổi quỳ trước tấm bảng gỗ có ba cái thẻ đồng. Tôi thấy mẹ tôi, nhỏ người, tóc bạc trắng, đứng cạnh cô ấy, nói những câu ấy bằng cái giọng đều đều mà mẹ vẫn dùng mỗi khi đã quyết một điều gì.

Tôi thấy mẹ ngồi cạnh giường bệnh, gọt táo, nói, nghe đâu nó lên Hà Nội học, nghe đâu có người quen trên ấy.

– Còn một chuyện nữa. – Bà Lụa nói. – Hôm chúng mày được đưa lên, người ta mang đèn của chúng mày về phòng đèn. Ba chiếc đèn, tao cắm vào ô. Ba cái thẻ đồng, tao phải gỡ khỏi bảng, cất vào hộp. Thẻ của thằng Vững tao gửi cho vợ nó. Vợ nó giờ bán rau ở chợ Cẩm Đông, cái thẻ đồng ấy nó xâu vào sợi dây chuyền, đeo trên cổ, mười một năm chưa tháo. Thẻ của thằng Hiếu tao cất lại. Còn thẻ của mày...

Bà dừng lại.

– Con Chinh xin tao. – Bà nói. – Nó không nói xin. Nó chỉ đứng nhìn cái thẻ, rồi nhìn tao. Tao gỡ thẻ ba trăm mười tám xuống, đặt vào tay nó. Trong sổ, tao ghi là thẻ bị mất trong lúc cứu hộ.

Mặt trời đã xuống thấp, nắng chiều chiếu xiên qua mái lá, rọi lên mặt bà Lụa những vệt sáng vàng. Bà đeo lại cặp kính lão, cầm cái túi lên, tiếp tục khâu.

– Mày về đi. – Bà nói, không ngẩng lên. – Về hỏi mẹ mày. Tao già rồi, chỉ biết tới đấy. Phần còn lại là chuyện nhà mày.

Tôi đi về. Tôi không nhớ mình đi đường nào. Tôi chỉ nhớ trời tối dần, đèn đường bật lên từng ngọn, xe tải chở than chạy rầm rập trên đường quốc lộ. Cái chân giả của tôi gõ xuống mặt đường từng nhịp đều đặn, cái chân mà Chinh đã thức trắng một đêm để làm lại. Tôi đi ra tận bãi biển, ngồi trên cái kè đá năm nào, chỗ cô từng bảo tôi đừng ở lại vì cô, ngồi cho tới khi biển tối đen và những chiếc sà lan chỉ còn là mấy đốm đèn.

Khi tôi về tới đầu ngõ thì đã gần nửa đêm. Nhà tôi tắt đèn. Chỉ có ngọn đèn sợi đốt nhỏ ở góc sân, chỗ cái chái củi, vẫn còn sáng.

Từ ngoài cổng, tôi nghe một âm thanh đều đặn, khô khốc.

Cốp. Cốp. Cốp.

Tiếng rìu bổ củi.

— Hết chương 7 —

Mục lục Thẻ đèn số ba trăm mười tám

  1. 1Một đĩa không hành, nhiều tiêu10 phút đọc
  2. 2Bốn ngày dưới mức âm một trăm năm mươi9 phút đọc
  3. 3Chín chữ9 phút đọc
  4. 4Lễ dạm ngõ thiếu một người9 phút đọc
  5. 5Người biết bước chân tôi9 phút đọc
  6. 6Con số không phải số máy9 phút đọc
  7. 7Phòng đèn của bà Lụa9 phút đọc
  8. 8Mẹ tôi chẻ củi lúc nửa đêm9 phút đọc
  9. 9Chuyến xe đêm về Cẩm Phả10 phút đọc
  10. 10Bảng đèn đủ số9 phút đọc

Về truyện này

Thẻ đèn số ba trăm mười tám là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →