Chương 6: Con số không phải số máy
Cái kho dưới gầm cầu thang khu tập thể rộng chừng bốn mét vuông, trần thấp, tường quét vôi đã ngả vàng. Ngày xưa người ta để xe đạp, để than tổ ong, để những thứ không biết vứt đi đâu. Bây giờ, dưới ánh bóng đèn tuýp treo lủng lẳng, nó là một cái xưởng.
Một cái bàn gỗ kê sát tường, trên phủ tấm ni lông dày. Cái hòm nhựa đen mở toang. Bụi sợi thủy tinh bám trắng mặt bàn, mùi keo, mùi nhựa nóng, cái mùi làm tôi nhớ đến phòng đèn mười một năm trước. Một cái quạt điện nhỏ quay vù vù, thổi hơi keo ra phía cửa. Trên mặt bàn còn vương những mẩu băng sợi cắt thừa, những tờ giấy nhám đã mòn nhẵn, và một cốc cà phê đã nguội ngắt, uống chưa được nửa.
Chinh ngồi trên một cái ghế đẩu thấp, quay lưng ra cửa, đang dùng giũa mài mép một mảnh nhựa gì đó. Cô không ngủ. Cô bảo về ngủ, nhưng cô không ngủ.
Tôi đã đi bộ lên con dốc ấy với cái chân cô vừa làm, đi nhanh hơn mọi khi, không bám vào đâu. Suốt quãng đường, tôi lẩm nhẩm trong đầu những câu định nói, sắp xếp chúng như sắp đĩa bánh lên mâm. Tới cửa kho, chúng rơi đâu hết.
Tôi đứng ở cửa kho. Cô biết tôi đứng đó. Tiếng chân giả của tôi trên bậc xi măng, ai nghe một lần cũng nhận ra. Cô không quay lại. Cô mài thêm mấy nhát giũa nữa, rồi đặt giũa xuống.
– Anh gọi cho anh Quý rồi à. – Cô nói. Không phải câu hỏi.
– Anh Quý gọi cho em à?
– Anh Quý nhắn. – Chinh quay ghế lại, nhìn tôi. – Anh ấy xin lỗi em. Anh ấy bảo anh hỏi đúng cái số, anh ấy không nói dối được.
Tôi bước vào. Cái kho chật, tôi đứng sát mép bàn, chân giả chạm vào chân ghế của cô.
– 0318 là gì? – Tôi hỏi.
Chinh nhìn tôi. Đôi mắt cô thâm quầng vì thức trắng, đỏ hoe ở khóe. Rồi cô cúi xuống nhìn hai bàn tay mình, những ngón tay bám đầy bụi sợi trắng, móng tay cắt sát, đầu ngón trỏ có một vết bỏng nhỏ còn đỏ.
– Số đèn của anh. – Cô nói.
– Anh biết là số đèn của anh. Anh hỏi em khắc nó vào chân anh làm gì?
Chinh im lặng. Cái quạt điện quay vù vù. Ngoài kia, trên cầu thang, có tiếng ai đi xuống, tiếng dép lê kéo lê từng bậc, rồi lại im.
– Năm mười tám. – Cuối cùng cô nói. – Em vừa ra trường, vào trung tâm mới được mấy tháng. Trung tâm nhận danh sách của quỹ, mười hai người thợ mỏ. Em đọc danh sách. Thấy tên anh ở dòng thứ chín. Phạm Văn Thảnh, Cẩm Phả, cụt dưới gối trái, năm hai nghìn mười lăm.
Cô ngừng lại, lấy mu bàn tay quệt ngang mắt, để lại một vệt bụi trắng trên má.
– Em xin anh Quý. Em bảo anh Quý lấy khuôn, lắp thử, làm mọi thứ có mặt anh. Em làm cái vỏ. Em làm ban đêm, sau giờ làm, ở trong xưởng, để không ai thấy. Em làm bốn lần mới được một cái vừa ý. Ba cái kia em đập đi.
– Thế còn cái số?
– Hồi em còn ở phòng đèn. – Chinh nói. Giọng cô bắt đầu run. – Thứ em sợ nhất là cái ô trống. Hết ca mà ô nào còn trống là em đứng nhìn nó. Đứng nhìn tới khi người ta cắm đèn vào. Bốn ngày năm ấy, ô ba trăm mười tám trống bốn ngày. Em đứng nhìn nó bốn ngày.
Cô nhìn lên tôi.
– Em khắc số đèn của anh vào cái chân. Để ngày nào anh đứng lên, đi lại, là ngày ấy đèn của anh về. Em không nghĩ anh sẽ để ý. Em nghĩ, có để ý thì anh cũng nghĩ đó là số máy.
– Anh nghĩ đó là số máy. – Tôi nói. Cổ họng tôi khô khốc. – Anh khoe với thằng Hiếu. Anh bảo ông trời trả anh cái đèn.
Chinh bật cười. Một tiếng cười ngắn, vỡ ra, rồi biến thành tiếng nấc.
– Hôm anh lên thử chân năm mười tám. – Cô nói, khi đã nín được. – Em đứng trong xưởng, sau tấm kính mờ. Phòng thử chân ngay bên kia. Anh Quý bảo anh đứng lên, anh đứng lên. Anh Quý bảo anh đi mười bước, anh đi mười bước. Rồi anh chạy. Anh chạy được ba bước, suýt ngã, anh Quý đỡ. Rồi anh cười. – Cô nhìn xuống cái chân giả của tôi. – Ba năm em không được thấy anh cười. Em đứng sau tấm kính ấy, cắn vào tay cho khỏi bật ra tiếng.
Tôi nhớ buổi chiều ấy. Nhớ tấm kính mờ cuối phòng thử, cái tấm kính tôi đã nghĩ chỉ là vách ngăn kho. Nhớ mình đã cười như thằng dở, cười tới chảy nước mắt, và anh Quý cũng cười theo.
– Tám năm nay em làm chân cho bao nhiêu người. – Chinh nói. – Ông già bị tiểu đường, chú bộ đội dẫm mìn, con bé sáu tuổi bị xe tải cán. Người nào em cũng làm cẩn thận. Nhưng mỗi lần lấy khuôn mỏm cụt cho một người, em lại nghĩ, không biết dạo này chân anh thế nào, mùa đông có sưng không, cái lót có mòn không.
Tôi kéo một cái thùng sơn rỗng lại, lật úp, ngồi xuống. Đầu gối chúng tôi gần chạm nhau. Bên dưới đầu gối trái của tôi là cái chân chính tay cô làm.
– Năm ấy, lúc người ta khiêng anh ra. – Tôi nói. – Anh nghe ai đó nói, đúng chỗ con bé phòng đèn nói. Đúng y chỗ. Là em à?
Chinh không trả lời.
– Cái sơ đồ em vẽ lên tay anh. – Tôi nói tiếp. – Cái lò cụt. Em nhớ nó à?
– Anh đừng hỏi nữa.
– Em nhớ nó, em chỉ cho người ta, người ta đào đúng chỗ. Em cứu anh. – Tôi nghe giọng mình to dần lên. Tôi không dừng được. – Rồi em bỏ anh. Mười hai ngày sau, em nhắn cho anh chín chữ, rồi em biến mất. Rồi ba năm sau em làm chân cho anh. Rồi bốn năm sau em làm thêm một cái nữa. Em khắc số đèn của anh vào đấy. Rồi em ngồi đây, nói với anh là em sợ cái ô trống. Thế là thế nào, Chinh? Em nói cho anh nghe đi. Thế là thế nào?
– Em không bỏ anh. – Chinh nói.
– Thế chín chữ kia là gì?
– Em không bỏ anh. – Cô nói lại, lần này nhỏ hơn. – Em hứa với một người rồi.
Tôi khựng lại.
– Hứa gì? Hứa với ai?
Chinh lắc đầu.
– Em không nói được.
– Tại sao?
– Vì người đó còn sống. – Cô nói. – Vì em hứa rồi. Vì nếu em nói ra, anh sẽ ghét người đó, ghét suốt đời. Em không muốn anh ghét người đó. Em thà để anh ghét em.
– Em để anh ghét em mười một năm.
– Em biết.
– Em để anh nghĩ em bỏ một thằng cụt chân. Em có biết mười một năm nay anh nghĩ gì mỗi lần tháo cái chân này ra không? – Tôi đập bàn tay xuống cái ống chân giả. Nó kêu một tiếng khô khốc. – Anh nghĩ, đấy, vì cái này mà cô ấy đi. Anh nghĩ thế mỗi tối. Mười một năm.
Chinh khóc. Lần đầu tiên tôi thấy cô khóc như thế. Không thành tiếng, chỉ có hai vai rung lên, nước mắt chảy qua lớp bụi trắng trên má, kẻ thành những vệt dài. Cô không lau. Cô ngồi đó, hai bàn tay đặt trên đùi, nhìn tôi, để mặc nước mắt chảy.
– Em biết anh nghĩ thế. – Cô nói. – Em biết. Em để anh nghĩ thế.
Tôi đứng dậy. Cái thùng sơn đổ lăn ra nền xi măng. Tôi muốn nói thêm một điều gì đó, một điều thật ác, thật đau, như những điều tôi đã tưởng tượng sẽ nói với cô suốt mười một năm. Tôi không tìm ra câu nào. Tất cả những câu ác tôi chuẩn bị đều dành cho một người đàn bà đã bỏ đi. Không có câu nào dành cho người đàn bà đang ngồi trước mặt tôi, mặt lấm bụi sợi thủy tinh, khóc vì đã cứu tôi.
– Em có còn yêu anh không? – Tôi hỏi.
Cái câu ấy bật ra trước khi tôi kịp nghĩ. Ba mươi sáu tuổi, cụt một chân, đứng trong một cái kho dưới gầm cầu thang, hỏi một câu như thằng học sinh cấp ba.
Chinh nhìn tôi. Cô không trả lời. Cô cúi xuống nhặt cái giũa trên bàn, cầm lấy mảnh nhựa đang mài dở, và tiếp tục mài.
Đó là câu trả lời. Tôi biết đó là câu trả lời. Một người đàn bà không còn yêu sẽ nói không. Một người đàn bà còn yêu mà đã hứa với ai đó điều gì đó, thì sẽ cúi xuống mài một mảnh nhựa.
Tôi đi ra khỏi cái kho. Ra tới chân cầu thang, tôi đặt tay lên cái tay vịn sắt sơn xám. Cái tay vịn cô lắp cho bố cô. Tôi đứng đó một lúc, tay bám vào ống sắt lạnh, nghĩ.
Một người còn sống. Một người mà nếu tôi biết, tôi sẽ ghét suốt đời.
Tôi điểm qua từng người trong đầu. Bác Bộ? Bác Bộ thương tôi như con. Thằng Tùng? Năm ấy nó mới mười tám tuổi. Thằng Hiếu? Thằng Hiếu nằm cạnh tôi trong hốc đá suốt bốn ngày, không thể hứa với ai được điều gì. Một người nào đó ở mỏ? Ông quản đốc, ông giám đốc, những người có thể muốn che giấu điều gì đó về vụ bục nước? Nhưng chuyện ấy liên quan gì tới việc cô bỏ tôi? Tôi điểm qua đủ mọi người, trừ một người. Người ta không bao giờ điểm tới mẹ mình.
Tôi không nghĩ ra.
Nhưng tôi biết một điều. Bốn ngày năm ấy, Chinh không rời phòng đèn. Và người duy nhất ở cùng cô trong phòng đèn suốt bốn ngày ấy, người đã giữ phòng đèn ba mươi năm, thuộc tên từng thằng thợ, nhìn thấy từng giọt nước mắt rơi trước cái giá sắt dài, là bà Lụa.
Bà Lụa về hưu đã sáu năm. Bây giờ bà bán nước chè ở cái quán lá ngay cổng sau của mỏ, chỗ thợ hay ra hút thuốc lào giữa ca.
Tôi đứng thẳng dậy, buông cái tay vịn, và đi về phía cổng sau.
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe